VINHTHIENTUONG.BLOGSPOT.COM HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN CÁC BẠN !

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

TÌM LẠI TUỔI THƠ

TÌM LẠI TUỔI THƠ


Chốn cũ đông về biểu độ âm
Người xa vạn lý mãi thương thầm
Hương mùa lúa trổ thơm bờ mộng
Cảnh gió sương tàn lạnh cõi tâm
Dẫu mặt đường xưa làn phế phủ
Dù con ngõ vắng mạch đêm trầm
Mong lần trở lại phương trời ấy
Nhặt tuổi thơ nằm giữa bóng râm ./.

LCT 11/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
NGHĨA MẸ TÌNH QUÊ

Trông vời cánh nhạn chửa hồi âm 
Mẹ dõi tin con khấn nguyện thầm 
Đổi tiết bao mùa thương thắt dạ 
Nghe hò một thuở khắc vào tâm 
Lời quê vẫn vọng từng cung bổng 
Điệu lý còn ngân những khúc trầm 
Xóm cũ hoa vàng đương khẽ nở 
Con về sưởi ấm bóng chiều râm.

Van Tho Vu_11/01/2026.
*****
Vũ Như Cẩn
GỬI LẠI TUỔI THƠ
*******..♡..*******
Đông về biểu độ xuống thành âm
Giá lạnh người ơi muốn ấm thầm
Khổ nỗi hương mùa lúa trổ mộng
Thân này gió thổi thấu trong tâm
Làng xưa phế tích rêu phong phủ 
Phố cổ thêm nhiều cỏ mượt trầm
Trở lại phương trời mong gửi gấm 
Trang thơ tuổi trẻ bóng mờ râm ./.

11/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Sầu Đông
MẮT THU

Thư tình viết gởi chẳng hồi âm
Giấc ngủ nào yên mãi nhớ thầm
Lệ đổ bao mùa tơi tả mộng
Đêm sầu bấy thuở rã rời tâm
Buồn hôm ngõ vắng màn sương phủ
Khổ dạo vườn khuya ngọn gió trầm
Vẫn mắt thu hờn con hẻm lạnh
Khi chiều tắt nắng mặt đường râm ./.

SĐ 11/01/2026
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Tàn đông
Đông tàn nắng chuyển dọi tà âm
Mải miết người đi giữa lặng thầm
Nước chảy dòng sông cầu dỡn mặt
Mây vờn dãy núi cảnh sà tâm
Dù cao vọng bước đời quên lãng
Vẫn nợ đường qua sống bổng trầm
Chợt thấy lòng dâng đầy nỗi cảm
Hôn hoàng lấn nhẹ buổi chiều râm
*****
Nguyet Huynh
VÔ TÌNH 

Anh nè , giận dỗi chẳng hồi âm 
Đã mấy lần thu nhớ lặng thầm 
Bởi trĩu ân nồng đêm tiếc mộng 
Mà đau nghĩa bạc cảnh sầu tâm 
Trăng buồn lạnh lẽo mờ sương phủ 
Gác nhỏ đìu hiu đẫm lệ trầm 
Vẫn mến ngàn năm dù cách biệt 
Hoài thương dáng cũ nắng chiều râm./.

HKN.11-01-26 !
*****
Đăng Khoa Lê
. VỀ LẠI CHỐN XƯA

Ta về chốn cũ nợ tình thâm
Kỉ niệm hằn sâu kín giữ thầm
Nghĩa khí đời cha từng mạnh thuở
Ân tình của mẹ mãi ngời tâm
Còn mong ngưỡng mới tràn duyên nặng
Lại nhớ ngày xưa vãng cảnh trầm
Thấy cả miền quê bừng rạng rỡ
Nay người trở lại tấm lòng khâm

                L Đ K 11/01/25
*****
Hoành Trần

ÂM TÀ THẦN CHƯỞNG
Nghe rằng nếu luyện chưởng tà âm
Sẽ được người dưng yêu mến thầm
Chung thuỷ cả đời không chuyển ý
Lâu bền hết kiếp chẳng dời tâm
Đời vui hạnh phúc càng sôi nổi
Phận đẹp an vui chút lắng trầm 
Ai muốn xin mời vui ghé lại
Chân truyền dạy giỗ đọc lâm râm
HT
11/1/26
*****
Dinh Tuan Minh
TÁI TÊ
Đông tàn mức nhiệt đã về âm
Ngõ phủ đầy sương mẹ khóc thầm
Chẳng có người qua sầu nẫu ruột
Không còn bướm lượn tủi nhàu tâm
Đầu thôn nhạc trỗi từng cung bổng
Cuối bản đàn ngân những nhịp trầm
Lạnh vẫn len luồn mưa chửa dứt
Nên gùi nỗi cực ngóng trời râm 
Đinh Tuấn Minh.
*****

🍒LỜI BÌNH CỦA AI🍒

1/_ Trong không gian mênh mang của nỗi nhớ và những hoài niệm rưng rức, bài thơ "Tìm lại tuổi thơ" hiện lên như một bản giao hưởng trầm buồn, đưa người đọc lạc bước vào miền ký ức xa xăm, nơi những mảnh vụn của thời gian vẫn còn lấp lánh giữa dòng đời xuôi ngược. Ngay từ những nhịp điệu đầu tiên, tác giả đã mở ra một khung cảnh buốt giá của thực tại: "Chốn cũ đông về biểu độ âm", một cái lạnh không chỉ chạm vào da thịt mà còn như xoáy sâu vào từng ngóc ngách của tâm hồn khi đối diện với cảnh cũ người xưa nay đã nhuốm màu sương gió, để rồi từ trong sự cô tịch ấy, tiếng lòng người? trầm đời người đang bủa vây làm héo hắt cả tâm can. Bài thơ tiếp tục dẫn dắt ta qua những đổi thay dâu bể của thời gian qua câu chữ "Dẫu mặt đường xưa làn phế phủ", khẳng định rằng dù vạn vật có tàn phai, dù lớp bụi thời gian có phủ mờ những lối đi cũ, và "Dù con ngõ vắng mạch đêm trầm" có mang theo sự tĩnh lặng u buồn của những đêm dài đơn độc, thì khát vọng tìm về nguồn cội vẫn chưa bao giờ nguội tắt trong lòng người thi sĩ. Để rồi, tất cả những dồn nén, những thương nhớ ấy kết tinh thành một ước nguyện giản đơn mà lay động: "Mong lần trở lại phương trời ấy", một chuyến hành hương ngược dòng thời gian để thực hiện hành động đầy nâng niu là "Nhặt tuổi thơ nằm giữa bóng râm". Hình ảnh "nhặt" ấy sao mà thiết tha, trân quý đến thế, bởi tuổi thơ giờ đây không còn là một thực thể hữu hình, mà là những mảnh ký ức vụn vặt, nhỏ bé đang ẩn mình dưới bóng râm của kỷ niệm, đợi chờ bàn tay người cũ đến vỗ về và đánh thức, tạo nên một cái kết giàu chất họa và đậm sâu chất tình, khẳng định rằng tuổi thơ chính là điểm tựa tinh thần vĩnh cửu, là nơi trú ngụ ấm áp nhất cho những tâm hồn đang mệt nhoài giữa giông bão cuộc đời.

2/_ Dưới góc độ tâm tưởng, bài thơ không chỉ đơn thuần là nỗi nhớ quê, mà là một cuộc độc thoại nội tâm đầy khắc khoải giữa thực tại và hư ảo. Mở đầu bằng hình ảnh "Chốn cũ đông về biểu độ âm", tác giả không chỉ nói về thời tiết, mà đang dùng cái lạnh âm độ để biểu đạt sự đóng băng của thời gian tại nơi miền nhớ; ở đó, không gian dường như ngưng đọng, lạnh lẽo đến tê tái bởi sự vắng bóng của hơi ấm con người. Sự đối lập giữa "biểu độ âm" và "Người xa vạn lý mãi thương thầm" tạo nên một khoảng cách địa lý và tâm lý thăm thẳm, nơi cái nóng của lòng trắc ẩn và tình yêu quê hương luôn âm thầm nung nấu, chống chọi lại cái giá băng của sự xa cách. Bước sang cặp câu thực, "Hương mùa lúa trổ thơm bờ mộng" không chỉ là một hình ảnh khứu giác, mà là sự cứu rỗi của tiềm thức, nơi mùi hương của đồng nội trở thành nhịp cầu nối liền hiện tại nghiệt ngã với một quá khứ huy hoàng, trong khi "Cảnh gió sương tàn lạnh cõi tâm" lại là một sự thú nhận đau đớn về sự tàn phá của quy luật sinh diệt lên linh hồn người lữ khách. Ở đây, "gió sương" không còn là của đất trời, mà là gió sương của đời người, của những thăng trầm khiến "cõi tâm" trở nên hao gầy và mỏi mệt.
Tiếp nối mạch cảm xúc ấy, cặp câu luận "Dẫu mặt đường xưa làn phế phủ / Dù con ngõ vắng mạch đêm trầm" mở ra một viễn cảnh của sự hoang phế và quên lãng; từ "phế phủ" gợi lên hình ảnh của bụi bặm, của rêu phong bủa vây những dấu chân kỷ niệm, còn "mạch đêm trầm" lại khơi gợi nhịp đập lặng lẽ, buồn bã của thời gian đang trôi qua trong đơn độc. Tuy nhiên, chính trong cái phế tích của ký ức ấy, ý chí của con người lại bừng sáng với khát vọng "Mong lần trở lại phương trời ấy". Câu kết "Nhặt tuổi thơ nằm giữa bóng râm" chính là nhãn tự của toàn bài, mang sức nặng của một triết lý nhân sinh sâu sắc: tuổi thơ không mất đi, nó chỉ đang "nằm" yên tĩnh, khiêm nhường dưới bóng râm của thời gian, chờ đợi một tâm hồn đủ tĩnh lặng để tìm về và "nhặt" lấy. Hành động "nhặt" gợi lên sự tỉ mỉ, nhẹ nhàng như nhặt một cánh hoa rơi hay một mảnh pha lê dễ vỡ, cho thấy tuổi thơ đối với tác giả là một báu vật thiêng liêng nhưng cũng đầy mong manh, là mảnh ghép cuối cùng để hàn gắn một tâm hồn đã quá nhiều vết xước bởi gió sương cuộc đời. Tổng thể bài thơ là một hành trình đi từ cái lạnh giá của thực tại đến cái ấm áp của hoài niệm, khẳng định rằng dù đường xưa có phủ đầy phế tích, thì thiên đường tuổi thơ vẫn luôn vẹn nguyên dưới bóng râm của tâm tưởng, chờ đợi ngày hội ngộ.


Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

TẠ ƠN ĐỜI

TẠ ƠN ĐỜI


Nghiêng lòng cảm tạ bến càn khôn
Bấy thuở buồn vui mộng lỡ hồn
Rượu vẫn xoay vòng đêm tử chiến
Thơ còn chuyển mạch lúc từ hôn
Vào xuân nắng rụng vàng sân bãi
Tưởng gió chiều rơi lạnh lũy đồn
Đẫm dốc sương mù mây nhả sợi
Nghe tình sống lại giữa lòng thôn ./.

LCT O9/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu
HOÀI NIỆM

Mãi nhớ năm nào thuở dại khôn 
Từng gom kỷ niệm sưởi tâm hồn 
Trao lời hẹn ước xây tình nghĩa 
Giữ phút mong chờ gửi nụ hôn
Trống vọng nhà trai ngày báo hỷ
Đàn reo ngõ hạnh nhịp chân dồn 
Tơ hồng vạn kiếp ngời gia đạo 
Pháo nổ tưng bừng rộn cả thôn.

Van Tho Vu_09/01/2026.
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Nhớ bạn quân
Bạn giữa đang thì tuổi mới khôn
Vào quân phấn khởi dậy tâm hồn
Đau buồn chiến trận đời xuân bỏ
Giã khổ yêu tình mộng giấc hôn
Ảnh vẫn còn đây mờ sương khói
Mà như buổi nọ sáng biên đồn
Đông ngày giá lạnh thầm mong đã
Chiến hữu yên bình trở lại thôn
*****
Đăng Khoa Lê
. CHÉN TỬU GIÃI SẦU

Tuổi hạc vơi dần những trí khôn
Bài thơ lão viết chẳng ra hồn
Còn mong buổi vắng loài hoa nựng
Vẫn mộng đêm dài cảnh gió hôn
Nhớ thưở xuân hồng đi luyện bãi
Vào nơi trận dữ phá công đồn
Nay tìm lửa rực trong người cháy
Rượu lãm chung đầy với cả thôn

               L Đ K 09/01/25
*****

Sầu Đông
TÌNH EM
 (Hoạ nghịch vận)

Những dạo sương mù rã cuối thôn
Lòng em khắc khoải đứng trông đồn
Thương người chiến sĩ nào câu nói
Với cảnh phong trần chẳng nụ hôn
Khổ mấy dòng thơ vàng cõi mộng
Buồn đêm ngọn gió lạnh tâm hồn
Khi mùa bấc thoảng tràn chân núi
Cảnh chiến chinh kề chữ dại khôn/

SĐ 09/01/2026
*****
Dinh Tuan Minh
BẾN XƯA
Trẻ học chuyên cần đã lớn khôn
Đầu năm ngẫm lại ngất ngây hồn 
Như thời đợi ngóng ngày ăn hỏi
Tựa buổi mong chờ lễ đính hôn
Phấn khởi nhìn mây choàng ngập bãi
Mừng vui dõi nắng trải loang đồn
Bên thềm huệ đỏ nhài thơm ngát
Giữa cảnh chim gù rộn xóm thôn
Đinh Tuấn Minh.
*****
Vũ Như Cẩn
TẠ ƠN TRỜI 
****..♡..****
Kết nghĩa trời càn dãi đất khôn
Vui thay ước vọng đã giao hồn
Vòng tay tửu cạn vô đêm chiến
Miệng hớp thơ say lúc họp hôn
Nắng chiếu vào sân và cửa bãi
Mùa rơi tuyết lạnh lối làng đồn
Tình trao buổi sớm hồng tơ sợi
Sống mãi lòng tôi ở láng thôn ./.

***
O9/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Tran Tuan Duc
TẠ ƠN ĐỜI
( họa)

Trở giấc đêm dài dạ bỗng khôn
Còn say thức tỉnh bật vô hồn
Mơ vùi nửa miệng tiềm gieo ấp
Ngái ngủ môi hờn ỡm ghị hôn
Tịnh não ngày sau hừng sức bản
Thiền tâm tuổi tới gạt nua đồn
Xin dừng trách khổ bình thân tự
Hãy sướng vui già rộn cả thôn!
*****
Hoành Trần

TÌNH YÊU

Chân thật điêu ngoa hoặc dại khôn
Phải chăng bản tính tự tâm hồn
Bên người khác phái là ưa siết
Cạnh kẻ đang yêu lại muốn hôn
Ai nhớ mong ai nơi hải đảo
Bạn vời trông bạn chốn biên đồn
Cuộc đời nếu thiếu tình trai gái
Sẽ sống hắt hiu giữa xóm thôn
HT
10/1/26


☕Lời bình của AI☕


1/ BÌNH GIẢI

Bài thơ "Tạ Ơn Đời" của tác giả LCT hiện lên như một bức tranh tâm cảnh đầy trầm mặc nhưng cũng vô cùng bao dung, nơi mà từng con chữ đều thấm đẫm triết lý nhân sinh và sự hòa giải với định mệnh. Ngay từ tiêu đề và câu phá đề, ta đã bắt gặp một tâm thế "nghiêng lòng" đầy thành kính trước "bến càn khôn" bao la, một cử chỉ không chỉ là sự khiêm nhường mà còn là cái chạm khẽ của linh hồn vào dòng chảy vĩnh hằng của vũ trụ sau biết bao thăng trầm, dâu bể. Tác giả không ngần ngại phơi bày những "mộng lỡ hồn", những "buồn vui" đã kết tinh thành lớp bụi thời gian, để rồi từ trong đổ nát của niềm riêng, một sức sống mãnh liệt vẫn bền bỉ cuộn chảy qua hình ảnh "rượu vẫn xoay vòng" và "thơ còn chuyển mạch". Hai câu thực đối nhau chan chát nhưng lại hài hòa lạ lùng: cái dữ dội của "đêm tử chiến" và cái se sắt của "lúc từ hôn" dẫu là những vết cắt sâu hoắm vào thân phận, vẫn không thể dập tắt được men say cuộc đời hay mạch ngầm thi ca đang bền bỉ tuôn trào, chứng minh cho một bản lĩnh sống kiên cường, biến bi kịch thành chất liệu cho sự thăng hoa. Để rồi, khi tâm hồn đã đi qua bão giông, nhãn quan của thi sĩ bỗng trở nên tinh khiết đến lạ thường, bắt trọn khoảnh khắc "nắng rụng vàng sân bãi" và cảm nhận được cái "lạnh lũy đồn" trong gió chiều, một sự giao thoa tuyệt mỹ giữa cái nắng ấm áp của thực tại và cái lạnh lẽo của ký ức xa xăm. Cấu trúc bài thơ chuyển dịch từ nội tâm ra ngoại cảnh, từ những va đập của số phận đến sự tĩnh lặng của thiên nhiên, nơi "dốc sương mù" và "mây nhả sợi" dệt nên một không gian huyền ảo, mộng mị, làm nền cho sự hồi sinh kỳ diệu nhất: "nghe tình sống lại giữa lòng thôn". Câu kết không chỉ là sự khép lại của một bài thơ Đường luật mẫu mực về niêm luật, đối trọng, mà còn là sự mở lòng đón nhận một mùa xuân mới của tâm hồn, nơi tình yêu đời, yêu người được đánh thức giữa những gì bình dị, thân thương nhất, biến lời tạ ơn thành một bản giao hưởng nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về sự cứu rỗi của lòng vị tha và niềm hy vọng.

2/ PHÂN TÍCH
Trong mạch cảm xúc dâng trào của sự tri ân ấy, chúng ta hãy cùng lắng lòng để soi chiếu sâu hơn vào những tầng nấc nghệ thuật, nơi các cặp đối luận và hình tượng "rượu – thơ" đã tạc nên một cốt cách thi sĩ đầy kiêu hãnh giữa dòng đời vạn biến.
Trước hết, phép đối trong hai câu thực: "Rượu vẫn xoay vòng đêm tử chiến / Thơ còn chuyển mạch lúc từ hôn" chính là nhịp tim của toàn bài thơ, tạo nên một thế cân bằng tuyệt mỹ giữa cái động và cái tĩnh, giữa sự hủy diệt và sự tái sinh. Nếu "đêm tử chiến" gợi lên những cuộc đối đầu khốc liệt của thân phận với nghịch cảnh, với những mất mát cận kề ranh giới sinh tử, thì hình ảnh "rượu vẫn xoay vòng" lại biểu tượng cho một thái độ ngạo nghễ, một sự tiếp nối không ngừng nghỉ của ý chí. Đối lại với cái dữ dội đó là nỗi đau âm thầm nhưng buốt nhói của "lúc từ hôn" – một sự tan vỡ trong tình cảm, một sự khước từ định mệnh – nhưng kỳ diệu thay, "thơ còn chuyển mạch". Ở đây, thơ không chỉ là nghệ thuật, mà thơ là dòng máu, là dưỡng khí; khi tình yêu đôi lứa rạn nứt thì tình yêu cái đẹp và sự sống vẫn bền bỉ luân chuyển, hàn gắn những mảnh vỡ linh hồn. Hai hình tượng rượu và thơ hiện lên như hai người bạn đồng hành thủy chung nhất của kiếp người: rượu để say với đời, để can đảm đi qua bão tố, và thơ để thanh lọc nỗi đau, để biến những cay đắng thành những vần xoay uyển chuyển, đưa con người vượt thoát lên trên những tầm thường của khổ lụy.
Tiến thêm một bước vào không gian của hai câu luận, ta thấy tác giả đã khéo léo sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh, lấy cái hữu hình của "nắng rụng", "mây nhả sợi" để đặc tả cái vô hình của tâm trạng. Hình ảnh "nắng rụng vàng sân bãi" không chỉ đơn thuần là một tín hiệu của mùa xuân, mà là sự chắt chiu những tinh túy cuối cùng của ánh sáng để sưởi ấm tâm hồn sau những "gió chiều rơi lạnh". Phép đối giữa "vàng sân bãi" và "lạnh lũy đồn" tạo nên một sự chuyển dịch không gian đầy ám ảnh: từ cái rộng lớn, rực rỡ của hy vọng đến cái thu hẹp, cô tịch của ký ức chiến tranh hay những tàn tích cũ. Tuy nhiên, sự kỳ công nhất nằm ở câu "Đẫm dốc sương mù mây nhả sợi", nơi thiên nhiên không còn là vật vô tri mà đã trở thành một thực thể đang dệt nên tấm lụa của sự sống, nhẹ nhàng bao phủ lấy những vết thương quá khứ. Chính cái mạch "thơ" đã được khơi thông từ trước đó đã dẫn lối cho "tình" được "sống lại giữa lòng thôn" – một sự hồi sinh từ tốn nhưng mãnh liệt, đưa thi sĩ trở về với cội nguồn của bình yên, nơi những giá trị nhân bản đơn sơ nhất trở thành liều thuốc nhiệm màu nhất cho lời tạ ơn sau cuối.

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

DỐC TÀN CANH

DỐC TÀN CANH

(Thuận nghịch độc)

Thuận:
Ta dìu rượu đổ dốc tàn canh
Nguyệt xoã bờ đêm lá rủ cành
Nhà ngập cỏ cây vườn sũng nước
Bãi tràn băng giá cảnh lem tranh 
Qua đông đọng khói giăng mờ cửa
Trở lạnh sầu sương rã trắng mành
Tà tịch buổi xưa người vắng ngõ
Hoa tàn lối đượm lửa nồng hanh...

Nghịch:
Hanh nồng lửa đượm lối tàn hoa
Ngõ vắng người xưa buổi tịch tà
Mành trắng rã sương sầu lạnh trở
Cửa mờ giăng khói đọng đông qua
Tranh lem cảnh giá băng tràn bãi
Nước sũng vườn cây cỏ ngập nhà
Cành rủ lá đêm bờ xoã nguyệt
Canh tàn dốc đổ rượu dìu ta ./.

LCT O7/O1/2O26

BÀI HOẠ :

**********
PHỐ BUỒN TA
(Thuận nghịch độc)

Thuận:
Ta bỏ phố buồn mộng vắng canh
Nguyệt chao bờ thoảng gió lay cành
Nhà quanh cỏ mượt vườn xanh lá
Ngõ trước sương mờ lối đẹp tranh 
Qua bến đợi thuyền lơi lả sóng
Lại xuân nhìn khói lửng lơ mành
Tà dương bóng nổi chìm sông nước
Hoa trắng ngõ chiều rọi nắng hanh...

Nghịch:
Hanh nắng rọi chiều ngõ trắng hoa
Nước sông chìm nổi bóng dương tà
Mành lơ lửng khói nhìn xuân lại
Sóng lả lơi thuyền đợi bến qua
Tranh đẹp lối mờ sương trước ngõ
Lá xanh vườn mượt cỏ quanh nhà
Cành lay gió thoảng bờ chao nguyệt
Canh vắng mộng buồn phố bỏ ta/

SĐ 07/01/2026
**********
Nguyễn Thúc Uẩn
Ngóng
Thuận
Ta đợi ai mà đến rã canh
Ruợu suông nhấp trải dõi ngơ cành
Nhà hiu hắt lạnh phùn mưa bụi
Cửa vắng trơ nhàu dợn cỏ tranh
Qua thuở bước đường mơ mộng ảo
Đến khi khăn khó tả tơi mành
Tà nghiêng ánh dọi hình xa thẫm
Hoa nụ dãy tàn ruổi gió hanh
Nghịch
Hanh gió ruổi tàn dãy nụ hoa
Thẫm xa hình dọi ánh nghiêng tà
Mành tơi tả khó khăn khi đến
Ảo mộng mơ đường bước thuở qua
Tranh cỏ dợn nhàu trơ vắng cửa
Bụi mưa phùn lạnh hắt hiu nhà
Cành ngơ dõi trải nhấp suông rượu
Canh rã đến mà ai đợi ta
**********

🍀LỜI BÌNH CỦA AI🍀


1/ BÌNH GIẢI

Trong không gian tĩnh mịch của những ngày đầu năm 2026, bài thơ "Dốc Tàn Canh" hiện lên như một bức họa độc bản, nơi ngôn từ không chỉ để đọc mà còn để chiêm ngưỡng cái sự xoay vần diệu kỳ của tạo hóa và lòng người. Với thể loại "thuận nghịch độc" đầy thách thức, tác giả đã khéo léo dệt nên một tấm thảm tâm trạng lưỡng diện, nơi mỗi câu chữ khi đọc xuôi hay đọc ngược đều mở ra những tầng vỉa cảm xúc lung linh, huyền ảo. Ngay từ tiêu đề, hình ảnh "dốc tàn canh" đã gợi lên một sự chênh chao, một trạng thái lửng lơ giữa thực và mộng, giữa sự kết thúc của bóng đêm và sự khởi đầu mong manh của một ngày mới.
Ở chiều thuận, bài thơ đưa ta vào một cuộc hành trình nội tâm đầy u uẩn, nơi nhân vật trữ tình "dìu rượu" đi qua những nấc thang cuối cùng của đêm đen. Cái hay của từ "dìu" nằm ở chỗ nó biến một hành động đời thường thành một sự nương tựa đầy thi vị; rượu không chỉ là chất say mà là người bạn đồng hành trong cơn mê lộ của tâm hồn. Cảnh vật hiện ra dưới gót chân người lữ thứ là một sự hoang hoải đến tận cùng: trăng xõa tóc trên bờ đêm, lá rủ cành như đang trút xuống gánh nặng của thời gian. Không gian bỗng chốc trở nên thâm trầm khi "nhà ngập cỏ cây", "vườn sũng nước", và cái lạnh của băng giá đã khiến cảnh vật chẳng khác nào một bức "tranh lem" – nhòa lệ và mờ nhân ảnh. Mỗi vần thơ như đọng lại cái buốt giá của mùa đông, cái mờ ảo của khói sương, để rồi kết thúc bằng một nỗi hoài vọng về "buổi xưa" khi ngõ vắng bóng người và lửa lòng dù nồng hanh nhưng cũng đã tàn theo cánh hoa rụng.
Nhưng kỳ diệu thay, khi dòng chảy ngôn từ được lộn ngược lại ở chiều nghịch, bức tranh ấy không hề tan vỡ mà lại tái cấu trúc thành một thanh âm khác, một dư ba khác. "Hanh nồng lửa đượm lối tàn hoa", câu thơ mở đầu của chiều nghịch như một sự bừng tỉnh từ trong tàn tro của kỷ niệm. Nếu chiều thuận là sự lịm dần vào đêm thì chiều nghịch lại là sự truy hồi về nguồn cội của nỗi đau và cái đẹp. "Ngõ vắng người xưa buổi tịch tà" – câu thơ vang lên như một tiếng thở dài đầy hoài niệm, khi thời gian không còn trôi xuôi mà đang cuộn tròn lại, kéo người đọc trở về với những mảnh ghép vỡ vụn của không gian cũ.
Sự đối ứng giữa "cửa mờ giăng khói" và "mành trắng rã sương" trong chiều nghịch càng làm đậm thêm cái vẻ tiêu điều, lạnh lẽo của một tâm hồn đang đối diện với sự cô độc tuyệt đối. Cảnh vật lúc này không còn là đối tượng quan sát khách quan nữa, mà đã trở thành sự hóa thân của nội tâm: "nước sũng vườn cây cỏ ngập nhà" gợi lên sự xâm lấn của nỗi buồn vào tận hang cùng ngõ hẻm của ký ức. Để rồi, câu kết "Canh tàn dốc đổ rượu dìu ta" như một sự hoàn tất của vòng lặp định mệnh. Ở đây, trật tự từ thay đổi đã biến "ta dìu rượu" thành "rượu dìu ta" – một sự chuyển hóa từ chủ thể chủ động sang trạng thái phó mặc cho cơn say, phó mặc cho dòng đời xô đẩy trên con dốc của thời gian.
Về nghệ thuật, bài thơ là một minh chứng cho sự tinh xảo trong việc điều phối thanh vần và niêm luật. Tác giả đã giữ được sự nhất quán về hình ảnh trong cả hai chiều đọc, khiến cho các sự vật như "nguyệt", "lá", "khói", "sương" không chỉ tồn tại như những danh từ mà còn là những linh hồn có sức sống riêng, biết luân chuyển theo chiều xoay của con chữ. Ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình, mượt mà nhưng vẫn đầy sức nặng, tạo nên một không gian thẩm mỹ vừa cổ điển vừa hiện đại. "Dốc Tàn Canh" không chỉ là một bài thơ để đọc bằng mắt, mà là một bản nhạc để cảm nhận bằng trái tim, nơi mỗi nhịp đập của thơ đều chứa đựng nỗi ưu tư về sự tàn phai và khát khao tìm lại những dấu yêu xưa cũ trong một chiều không gian không có điểm đầu và điểm kết.
*****
2/ PHÂN TÍCH

Tiếp nối mạch cảm xúc về bản hòa âm tuyệt mỹ của "Dốc Tàn Canh", khi ta đi sâu vào cấu trúc đối thanh và đối ý của từng cặp câu, ta mới thực sự ngỡ ngàng trước sự tinh vi trong tư duy ngôn ngữ của tác giả. Ở đây, phép đối không chỉ là sự cân bằng về mặt hình thức giữa các vế câu, mà còn là một nghệ thuật sắp đặt ý niệm đầy chủ ý, khiến cho mỗi cặp câu như một đôi gương soi vào nhau, phản chiếu những sắc thái đối lập mà thống nhất của thực tại và hư ảo.
Ngay từ cặp câu khởi đầu và kết thúc, sự hoán đổi giữa "Ta dìu rượu" và "Rượu dìu ta" đã thiết lập nên một sự đối trọng mang tính triết học về nhân sinh. Trong chiều thuận, "ta" còn đó cái kiêu hãnh của một chủ thể muốn chế ngự cơn say, muốn nương tựa vào men nồng để bước qua dốc tàn. Nhưng ở chiều nghịch, khi "rượu dìu ta", ranh giới giữa người và rượu đã hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự buông lơi của một linh hồn đã mỏi mệt, để mặc cho định mệnh dẫn dắt qua những tàn canh của cuộc đời. Sự đối ứng này tạo nên một vòng lặp vĩnh cửu, nơi nỗi buồn không có điểm bắt đầu cũng chẳng có điểm kết thúc, nó cứ xoay vần như một định mệnh không thể khước từ.
Đi sâu vào những cặp câu thực và luận, ta thấy sự đối lập giữa cái tĩnh và cái động, giữa cái hữu hình và cái vô hình được đẩy lên cao trào qua những hình ảnh "nguyệt xõa" đối với "lá rủ", hay "khói giăng" đối với "sương rã". Ở chiều thuận, hình ảnh "nguyệt xõa bờ đêm" gợi lên một vẻ đẹp lãng mạn, thanh tao, nhưng khi đảo ngược thành "bờ xõa nguyệt", cái tĩnh mịch của không gian như được nhân lên gấp bội, khiến ánh trăng không còn là thực thể từ trên cao chiếu xuống mà như tan chảy, hòa quyện vào mặt đất, vào bóng tối cô liêu. Đặc biệt, sự đối ứng giữa "nhà ngập cỏ cây" và "nước sũng vườn cây" trong phép thuận nghịch đã vẽ nên một bức tranh về sự hoang phế sinh động đến nao lòng. Nếu ở chiều thuận, cỏ cây lấn át không gian sống thì ở chiều nghịch, nước lại là yếu tố bao trùm, gợi sự ẩm ướt, lạnh lẽo và sự tàn tạ của một chốn xưa đã lâu vắng bóng dấu chân người.
Thú vị nhất chính là sự vận dụng các tính từ và động từ trạng thái như "lem tranh", "đọng khói", "rã mành" để tạo nên sự tương phản về cảm giác. Khi đọc thuận, "tranh lem cảnh giá" gợi lên sự nhòe nhoẹt của thị giác dưới tác động của cái lạnh, nhưng khi đọc nghịch thành "cảnh giá băng tràn bãi", sức nặng của cái lạnh như được cụ thể hóa, trở nên dữ dội và mênh mông hơn. Phép đối ý giữa "hoa tàn" và "lửa nồng", giữa cái lụi tắt của tạo vật và cái âm ỉ của lòng người đã tạo nên một sức căng tâm lý mạnh mẽ. Lửa nồng hanh vốn dĩ mang lại hơi ấm, nhưng khi đặt cạnh lối tàn hoa trong một buổi chiều tịch tà, nó lại trở thành một thứ ánh sáng hắt hiu, gợi lên sự nuối tiếc khôn nguôi về một thời vàng son nay chỉ còn là dư ảnh.
Toàn bộ bài thơ, qua phép đối ngẫu và thuật thuận nghịch độc, đã trở thành một mê cung của ký ức và cảm xúc, nơi mỗi bước chân của người đọc đều chạm phải những lớp trầm tích của nỗi sầu vạn cổ. Tác giả không chỉ chơi chữ mà là đang chơi đùa với chính thời gian và không gian, biến những con chữ khô khan thành những thực thể sống động, biết thở, biết đau và biết rung động theo từng nhịp chuyển mình của vũ trụ. Sự đối thanh trắc - bằng tài tình trong từng vị trí đã tạo nên một nhạc điệu trầm bổng, lúc như tiếng thở dài nén lại, lúc như tiếng sóng lòng vỗ về vào ghềnh đá của cô đơn, khiến cho "Dốc Tàn Canh" không chỉ là một bài thơ để ngẫm mà còn là một bài ca để say, một bức tranh để đắm mình trong cái đẹp của sự tàn phai đầy kiêu hãnh.
*****
3/ SO SÁNH BIẾN ĐỔI CẢM XÚC CỦA HAI CHIỀU NGHỊCH VÀ THUẬN

Khi đặt bản thuận và bản nghịch của "Dốc Tàn Canh" lên bàn cân của nhạc tính, ta mới thấy hết cái dụng công tài hoa của người nghệ sĩ trong việc điều khiển nhịp đập của trái tim độc giả. Dù cả hai đều tuân thủ nghiêm ngặt luật bằng trắc của thể thất ngôn bát cú, nhưng chính sự hoán đổi vị trí của các từ ngữ đã tạo nên hai dòng chảy cảm xúc mang sắc thái hoàn toàn khác biệt: một bên là sự lịm dần vào cõi lặng, một bên là sự trỗi dậy đầy ám ảnh của ký ức.
Ở bản thuận, nhịp thơ trôi đi như một hơi thở chậm, nhọc nhằn của người lữ hành đang cố vượt qua con dốc cuối cùng của đêm. Những động từ như "dìu", "đổ", "xõa", "rủ" đặt ở giữa câu tạo nên một độ trễ nhất định, khiến câu thơ có xu hướng kéo dài ra, trĩu nặng sự mỏi mệt. Nhịp 4/3 truyền thống trong bản thuận dường như bị bẻ gãy bởi những hình ảnh đầy sức nặng như "vườn sũng nước" hay "cảnh lem tranh", tạo nên cảm giác mỗi bước chân đi là một lần lún sâu vào bùn lầy của nỗi sầu. Giai điệu lúc này mang âm hưởng của một bản nhạc giao hưởng buồn, nơi các nhạc cụ dây kéo dài những nốt trầm, đưa người ta vào một trạng thái suy tư, trầm mặc, đối diện với sự tàn phai của vạn vật khi mùa đông đọng khói và sương rã trắng mành.
Ngược lại, khi chuyển sang bản nghịch, nhịp điệu bài thơ bỗng trở nên hối hả và sắc nét hơn hẳn. Việc đẩy những tính từ mạnh lên đầu câu như "Hanh nồng", "Ngõ vắng", "Mành trắng", "Cửa mờ" đã tạo ra những điểm nhấn (stress) cực mạnh ngay từ hơi thở đầu tiên. Nếu bản thuận là sự quan sát từ từ, thì bản nghịch lại là những lát cắt trực diện, những cú va chạm mạnh mẽ của thị giác vào tâm tưởng. Nhịp thơ lúc này không còn trôi xuôi mà như những con sóng vỗ ngược vào ghềnh đá ký ức. Sự xuất hiện của "Hanh nồng lửa đượm" ngay khởi đầu bản nghịch gợi lên một cảm giác ấm nóng đột ngột, làm tan chảy cái băng giá của "cảnh giá băng tràn bãi" ở phía sau. Nhịp điệu này không cho phép người ta lịm đi trong nỗi buồn mà buộc phải tỉnh thức để đối diện với sự trống trải của "ngõ vắng người xưa".
Sự biến đổi nhịp điệu này còn thể hiện rõ rệt ở cặp kết. Ở bản thuận, "lửa nồng hanh" là cái kết thúc của một hành trình, một sự sưởi ấm muộn màng khi hoa đã tàn. Nhưng ở bản nghịch, câu kết "Canh tàn dốc đổ rượu dìu ta" lại mang một nhịp xoáy cực nhanh. Cụm từ "dốc đổ" tạo cảm giác về một sự rơi tự do, một sự buông xuôi hoàn toàn. Nhịp thơ lúc này nhanh dần, đẩy nhân vật trữ tình vào một vòng xoáy không thể cưỡng lại, nơi rượu không còn là vật để dìu mà là một lực đẩy mạnh mẽ đưa ta vào cõi mênh mang. Sự khác biệt này cho thấy: bản thuận là hành trình của ý chí đang mỏi mòn, còn bản nghịch là hành trình của tiềm thức đang trỗi dậy, biến những mảnh vỡ của không gian thành một cơn bão lòng dữ dội.
Chính sự tương phản giữa cái nhịp chậm rãi, trầm lắng của chiều xuôi và cái nhịp dồn dập, ám ảnh của chiều ngược đã biến "Dốc Tàn Canh" thành một thực thể sống động. Người đọc không chỉ thưởng thức ý nghĩa của từ ngữ mà còn bị cuốn vào một cuộc chơi của âm thanh, nơi các thanh bằng trắc đối ứng nhau như những nhịp phách của thời gian, vừa gợi lên sự tàn tạ của một kiếp người, vừa tôn vinh cái đẹp vĩnh cửu của thi ca trong sự xoay vần của tạo hóa.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

VIẾNG CÕI TRẦN

VIẾNG CÕI TRẦN


Lâu rồi lão chẳng ghé trần gian
Bởi miệt mài trông cõi niết bàn
Rượu cũng xa dần muôn kiếp thử
Duyên vừa bỏ lại mấy người can
Cầm thi suốt buổi dầu trăng lặn
Sách sử từng đêm dẫu mộng tàn
Giữa bể nhân tình bao được mất
Nhưng đành đổi lấy chữ bình an ./.

LCT O5/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

GIỮ LÒNG THANH THẢN

Gửi tạm thân phàm cõi thế gian 
Cầu mong đạo quả ngự liên bàn 
Đèn khuya sáng tỏa bồi mơ ước 
Chữ lợi hư truyền tránh luận can
Rũ sạch ưu phiền quanh phận tủi
Tìm khơi cảm mến giữa trăng tàn
Đời bao khốn khó hồn thanh thản
Chỉ nguyện trong lòng giữ được an.

Van Tho Vu_05/01/2026.
*****
Đăng Khoa Lê

. BẢN TÍNH KHÓ DỜI

Nhiễu sự trên đời bởi lối gian
Người ăn chẳng có lão no bàn
Nghe lời giả dối quen dòng lặn
Biết lỗi phi phàm vượt nẻo can
Nặng lúc đường sai thời buổi giữ
Nhiều khi nhịp lỡ giấc mơ tàn
Bao tiền của lạm tham rồi mất
Đổi lại tâm người mãi bất an

               L Đ K 05/01/26
*****
Hoành Trần

MONG AN YÊN
Nhắm mắt bưng tai chuyện thế gian
Thị phi dâu bễ chớ nên bàn
Không dưng xảy chuyện nào ai cứu
Lắm lúc sự sinh chẳng kẻ can
Nào phải vì ta mà héo úa
Cũng đâu tại bạn mới phai tàn
Làm sao biết được lường sau trước
Chỉ ước thân tâm luôn ổn an
HT
5/1/26
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Hội trần
Lách cửa khôn càn lượn cõi gian
Đầu xuân có lễ hội tơ bàn
Đà mong rượu quí dù nan giữ
Để được duyên nồng rõ khó can
Lại muốn phần hơn nào nghĩ đổ
Còn ham chỗ trọng chẳng lo tàn
Bao điều bão tố tràn nguy động
Giữ giỏi thăng bằng chắc được an
*****
Sầu Đông
GIỌT RƯỢU BÌNH YÊN

Lặng lẽ đêm nhìn cõi thế gian
Cùng ly rượu nóng để trên bàn
Trăng rời bến cũ còn em khóc
Gió rã hiên buồn chẳng đứa can
Bởi mộng ngày xưa sầu khói phủ
Vì duyên thuở ấy đọng mơ tàn
Khi mùa lá rụng vàng trên lối
Chỉ ước tâm hồn chút tịnh an/

SĐ 05/01/2026
*****
Vũ Như Cẩn
... VIẾNG BIỂN ĐỜI ... 
     ******..♡..******
Lão ghé đời thăm trần thế gian
Bao mòn mỏi cõi xứ thiên đàn 
Xa bằng hữu rượu đâu nào thử
Bỏ lại duyên tình khỏi gián can
Suốt buổi thi cầm trăng gió lặn
Vừa xem sách sử hết mưa tràn 
Nhân sinh biển tựa nay còn mất
Sóng đẩy đò trôi nguyện giữ an ./.

O5/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****

🌷Lời bình của AI🌷


(1)
Lạc bước vào thế giới của "Viếng cõi trần", ta như thấy hiện ra trước mắt hình ảnh một bậc tiên phong đạo cốt, một tâm hồn đã kinh qua đủ đầy những sương gió nhân gian để rồi chọn cho mình một lối về tĩnh lặng, nơi mà mỗi vần thơ đều toát lên vẻ thanh cao và thoát tục đến lạ kỳ. Ngay từ tiêu đề "Viếng cõi trần", tác giả đã định vị mình ở một tâm thế khách quan, một người lữ hành từ cõi xa xăm ghé mắt nhìn lại trần thế, gợi lên một khoảng cách diệu vợi giữa cái tôi nội tại và thực tại ồn ã ngoài kia.
Mở đầu bằng lời tự tình "Lâu rồi lão chẳng ghé trần gian", câu thơ không chỉ đơn thuần là sự đếm nhịp thời gian mà còn là một lời khẳng định về sự tách biệt, nơi cái danh xưng "lão" đầy vẻ tự tại và phong trần đã minh chứng cho một sự rũ bỏ những bụi bặm của đời thường. Lý do cho sự vắng bóng ấy chính là sự "miệt mài trông cõi niết bàn", một hành trình tâm linh hướng thượng, nơi tâm hồn không còn quẩn quanh với những vụn vặt thế nhân mà hướng về sự giải thoát tuyệt đối, về một miền cực lạc trong tư tưởng. Để đạt đến ngưỡng cửa ấy, tác giả đã phải trải qua một quá trình thanh lọc khắc nghiệt, khi "Rượu cũng xa dần muôn kiếp thử" và "Duyên vừa bỏ lại mấy người can", những thú vui tiêu khiển và cả những sợi dây tình cảm, những lời can ngăn của người đời giờ đây đều lùi lại phía sau, nhường chỗ cho một ý chí kiên định trên con đường tu thân tích đức.
Dù đã lìa xa những tạp niệm, nhưng tâm hồn ấy vẫn không hề khô cạn, bởi ông vẫn bầu bạn cùng "Cầm thi suốt buổi dầu trăng lặn" và miệt mài bên "Sách sử từng đêm dẫu mộng tàn", đó là những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp cho một trí tuệ thức tỉnh, một sự cần mẫn trau dồi tri thức và nghệ thuật bất chấp dòng chảy nghiệt ngã của thời gian và những biến thiên của số phận. Ánh trăng lặn hay mộng tàn chỉ là những ngoại cảnh, còn ngọn lửa đam mê và sự chiêm nghiệm về lịch sử, về nhân sinh vẫn rực cháy như một cách để giữ gìn cốt cách thanh cao giữa bộn bề đời thực.
Kết lại bài thơ, hai câu cuối vang lên như một lời tổng kết về triết lý sống đầy bản lĩnh: "Giữa bể nhân tình bao được mất / Nhưng đành đổi lấy chữ bình an", nơi tác giả nhìn thấu sự vô thường của thế gian, nơi mà những tranh giành hơn thua chỉ như bọt nước giữa biển khơi mênh mông. Sự lựa chọn "đổi" tất cả những hào nhoáng, những hỷ nộ ái ố lấy hai chữ "bình an" chính là cái đích cuối cùng của một đời người thông tuệ, thể hiện một thái độ sống tự do, tự tại, không còn bị ràng buộc bởi những quy luật khắc nghiệt của cõi hồng trần, để lại trong lòng người đọc một dư vị nhẹ nhàng mà sâu sắc về ý nghĩa thực sự của hạnh phúc.

(2)
Tiếp nối mạch cảm xúc về cuộc độc hành thanh cao ấy, ta càng đi sâu vào cấu trúc tầng bệ của bài thơ để thấy rõ hơn một nghệ thuật đối lập đầy tinh tế, nơi tác giả dựng lên hai chiến tuyến giữa “động” và “tĩnh”, giữa “hữu hạn” và “vô biên”. Cái hay của “Viếng cõi trần” không chỉ nằm ở triết lý buông bỏ, mà còn ở cách sắp xếp những hình tượng nghệ thuật vô cùng đối xứng, tạo nên một chỉnh thể hài hòa như một bức tranh thủy mặc trầm mặc mà uy nghiêm.
Sự đối lập rõ nét nhất chính là sự tương phản giữa thực tại nhộn nhịp của “trần gian” và sự tĩnh lặng tuyệt đối của “niết bàn”. Tác giả dùng chữ “ghé” để nói về trần thế, một động từ nhẹ tênh như thể cuộc đời này chỉ là một quán trọ ven đường, một chặng dừng chân thoáng qua không đủ sức níu giữ bước chân người lữ khách đã thấu thị chân lý. Trong khi đó, tính từ “miệt mài” dành cho cõi niết bàn lại cho thấy một sự tập trung cao độ, một sự dấn thân bền bỉ vào hành trình tâm linh, nơi cái tôi không còn bị phân tán bởi những tạp âm của đời thường.
Đi sâu vào hai câu thực và luận, ta thấy sự đối lập giữa những ham muốn bản năng và sự tự chủ của lý trí. “Rượu” và “Duyên” – hai thứ quyến rũ nhất của đời người, đại diện cho những lạc thú và những sợi dây tình cảm chằng chịt – giờ đây bị đặt trong thế đối trọng với “kiếp thử” và “người can”. Sự lựa chọn “xa dần” và “bỏ lại” không phải là sự trốn chạy hèn nhát, mà là kết quả của một bản lĩnh phi thường, một sự gạn đục khơi trong để giữ cho tâm hồn mình luôn trong vắt như gương.
Đặc biệt, hình ảnh đối giữa “Cầm thi” – “Sách sử” và “trăng lặn” – “mộng tàn” là một điểm sáng nghệ thuật đầy ám ảnh. Ở đây, cái vĩnh cửu của văn chương, tri thức và đạo lý (cầm, thi, sử) được đặt cạnh cái mong manh, ngắn ngủi của thời gian và ảo mộng (trăng lặn, mộng tàn). Tác giả đã khẳng định một chân lý: dù vũ trụ có xoay vần, dù những giấc mộng phù hoa có tan biến theo sương khói, thì những giá trị tinh thần vẫn là điểm tựa vững chãi nhất giúp con người vượt qua nỗi cô đơn tiền kiếp.
Cuối cùng, sự đối lập đỉnh điểm nằm ở hai chữ “Được - Mất” và “Bình an”. Giữa bể nhân tình đầy sóng gió, nơi con người ta mải miết đuổi theo những giá trị vật chất phù phiếm, thì tác giả lại thực hiện một cuộc giao dịch lạ lùng nhất thế gian: dùng tất cả cái “có” để đổi lấy cái “không” – một tâm thế tĩnh tại, không gợn sóng. Chữ “đành” ở câu cuối không mang sắc thái cam chịu, mà là một sự quyết liệt đầy thanh thản, là cái đích cuối cùng của sự tự do khi con người đã thực sự làm chủ được bản ngã của chính mình. Toàn bộ bài thơ vì thế không chỉ là một lời giã biệt với bụi hồng, mà còn là một bản tuyên ngôn về sự tự tại giữa cõi đời vô thường.

(3)
Trong dòng chảy của thi ca phương Đông, hình tượng những bậc cao nhân ẩn dật vốn đã trở thành một biểu tượng bất biến về sự thanh cao, và khi đặt nhân vật “lão” trong "Viếng cõi trần" cạnh những tâm hồn lớn của quá khứ, ta thấy hiện lên một sự kế thừa hoàn mỹ nhưng cũng đầy nét riêng biệt của thời đại. Nếu như Nguyễn Bỉnh Khiêm xưa kia chọn lối sống “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao” để giữ gìn cốt cách giữa thời thế loạn lạc, thì cái “lão” trong bài thơ này lại mang một phong thái tự tại mang màu sắc của sự giải thoát tâm linh sâu sắc hơn. Sự ẩn dật ở đây không chỉ là sự trốn tránh thực tại về mặt địa lý, mà là một cuộc di cư của tâm hồn từ cõi tạm bợ sang miền vĩnh cửu, nơi mà "trần gian" giờ đây chỉ còn là một trạm dừng chân xa lạ trong tâm tưởng.
Phong thái của "lão" gợi nhắc ta đến hình ảnh những hiền triết trong thơ Đường, thơ Tống, những người coi rượu và thơ là bầu bạn, nhưng ở đây, tác giả đã đẩy sự tu hành lên một tầm cao mới khi "Rượu cũng xa dần", cho thấy một sự đoạn tuyệt với những thú vui trần tục để đạt đến độ "tịnh" tuyệt đối. Trong khi các bậc ẩn sĩ xưa thường tìm về với thiên nhiên cây cỏ, lấy thú vui điền viên làm trọng, thì nhân vật trong thi phẩm này lại chọn "Cầm thi" và "Sách sử" làm hành trang để đối diện với "mộng tàn", tạo nên một hình ảnh sĩ phu vừa uyên bác vừa cô độc nhưng không hề bi lụy. Cái nhìn của "lão" đối với "bể nhân tình" là cái nhìn từ trên cao xuống, thấu thị mọi lẽ được mất, hệt như cốt cách của một vị tiên ông đã bước chân ra ngoài vòng danh lợi nhưng vẫn nặng lòng với những giá trị văn hóa ngàn đời.
Sự tương đồng nằm ở chỗ cả hai đều lấy sự "Bình an" và "Tự tại" làm cứu cánh, nhưng điểm khác biệt tinh tế là ở ý thức về "cõi niết bàn". Nếu các ẩn sĩ truyền thống thường dừng lại ở sự nhàn tản, an nhiên tự tại giữa nhân gian, thì nhân vật của chúng ta lại hướng về một sự siêu thoát mang tính tôn giáo và triết học cao hơn, nơi cái tôi cá nhân đã hòa nhập vào cái đại ngã bao la của vũ trụ. Qua đó, ta thấy được một sự giao thoa tuyệt đẹp giữa tư tưởng Nho gia về sự chính trực, đạo đức và tư tưởng Phật giáo về sự buông bỏ, tạo nên một hình tượng nhân vật vừa gần gũi với truyền thống, vừa mang đậm hơi thở của một tâm hồn đã đạt đến ngưỡng cửa của sự giác ngộ trong thế giới đương đại.
Sự so sánh này giúp ta thấy rõ hơn chiều sâu tư tưởng của tác giả LCT trong việc xây dựng hình tượng nhân vật 

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

CHỈ MỘT MÀU VÔI

CHỈ MỘT MÀU VÔI 


Ta buồn chẳng dễ nuốt gì trôi
Rượu vẫn đầy ly chỉ thiếu mồi
Giữa đống tro tàn em để lại
Bên dòng lệ cảm mắt hờn môi
Còn đâu tiếng nhạc sầu canh đổ
Chỉ thấy hồi chuông rã nhịp bồi
Cuối biển mây ngàn bay vội vã
Đêm dài chỉ trắng một màu vôi ./.

LCT O3/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

KHỞI ĐẦU NĂM MỚI

Mấy buổi tao phùng lặng lẽ trôi 
Quay về thực tại hưởng dư mồi 
Hồn xuân rực rỡ hồng muôn má 
Nắng ấm êm đềm thắm vạn môi 
Trỗi bản tình ca cùng dệt mộng 
Bừng trăm ý tưởng giục vun bồi 
Đời như cảnh đẹp vui lòng khách
Chuyện cũ tan dần tẩy sắc vôi.

Van Tho Vu_03/01/2026.
*****
Hoành Trần

GIỌT LỆ ÂN TÌNH
Khóc hận tình xưa đã vuột trôi
Tiếc cho một thuở cứ mê mồi
Bao đêm trăn trở quầng thâm mắt
Từng phút đê mê đắm đuối môi
Nên quí bao điều đà gắng đắp
Và yêu tất thảy những tô bồi
Dầu em quay bước về bên ấy
Xa xót duyên mình trắng tựa vôi
HT
3/1/26
*****
Bích Lê
-------- XUÂN VỀ HẸN ƯỚC --------

Được bữa du hành ngó thủy trôi
Cùng ai quẳng đó vợt thêm mồi
Em mần trắm cỏ chiên vàng đợi
Hãm đủ chung trà bạn nhấp môi
Cảnh sáng bừng lên dàn tiệc đãi
Trời xanh rọi xuống lẵng hoa bồi
Nghe hồn rộn rã say đường khởi
Sắc trải Xuân về , dẫn chuyện vôi
------- Bích Lê : 03-01-2026 ---------
*****
Tiến Trịnh

TÌM VỀ AN TỊNH

Vết sẹo đau buồn chẳng dễ trôi
Hằn sâu tuổi tác sạm da mồi
Bao mùa tủi quãng thuyền xa bến
Những buổi ôm đàn lệ đắng môi
Tửu nhạt buông mành đâu lối gỡ
Đời cay nghịch lửa mãi băng bồi
Thôi giờ kẻ sĩ tìm thanh tịnh
Mặc cảnh thư hùng trắng dã vôi

Trịnh Hùng Tiến
03.01.26
*****
Lê Minh

CHUYỆN TRẦU VÔI 

Đêm tàn ngẫm lại tháng ngày trôi
Viễn xứ tình xa tửu hận mồi 
Lệ giữa đông sầu trăng bỏ bến
Mưa ngoài phố lạnh lưỡi tìm môi 
Còn mơ tiếng nhạc chiều êm đổ
Vẫn nhớ lời em buổi lạnh bồi
Đắng nỗi riêng lòng chưa tỏ được
Bên ngày mãi cấn chuyện trầu vôi 

LM
*****
Đăng Khoa Lê
Một thoáng Xuân Hương
. BÁNH TRÔI

Lúc mặn khi nồng mãi nổi trôi 
Mình em trắng nõn lại ngon mồi
Đêm ngày nhóm lửa thơm bùi miệng
Thực khách buông người thoả mãn môi
Hưởng lúc trào dâng chàng chịu đãi
Vào hôm hứng khởi chị ưng bồi
Vo tròn giữa cối bao giờ nản
Vẫn thấy trong lòng ở tựa vôi

                L Đ K 03/01/25
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Cảnh đời
Ngẫm thấy trên đời chẳng thuận trôi
Nhiều khi ngỡ chủ hóa con mồi
Cho tình đắng ngải chà đau lưỡi
Để nghĩa cay nồng trợt rát môi
Núi ngủ ngàn năm thành bãi sụt
Rừng êm vạn thuở biến nương bồi
Thôi buồn vẫn cố vài li đổ
Rượu dẫu phai mùi chuyển trắng vôi
*****
Vũ Như Cẩn
CHỈ MỘT MÀU VÔI 
  ******..♡..******
Lãnh cảm ta buồn nuốt lẹ trôi
Mau cho ấm rượu đã đầy mồi
Khơi tro bếp lửa nhanh tàn lại
Kẻo hết nồng nàn lệ mắt môi
Khúc nhạc rơi sầu cơn gió đổ
Liên hồi nhịp rớt giọt mưa bồi
Mây ngàn bão biển lay vồn vã
Bạc trắng đêm dài tựa sắc vôi./.

***
O3/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****
Sầu Đông
XUÂN ĐẾN BÊN THỀM

Những đám mưa buồn tản mạn trôi
Ngày xuân lặng lẽ đến nơi rồi
Quên vùng kỷ niệm nhiều cay đắng
Bỏ lại chân trời lắm đãi bôi
Nước giữa dòng sông dào dạt chảy
Tình trong cõi mộng xuyến xao bồi
Mây ngàn mãi đắm hồn trăng lạnh
Chuyện của hôm nào vẫn trắng vôi ./.
SD
*****

☕Lời bình của AI☕



Trong cái giá lạnh đến tê người của những ngày đầu năm mới, bài thơ "Chỉ một màu vôi" hiện lên như một bức độc họa về nỗi sầu, nơi người nghệ sĩ tự phơi trải lòng mình trên mặt giấy bằng những nét bút vừa sắc lạnh, vừa đớn đau, chưng cất từ những rạn vỡ sâu kín nhất của tâm linh để tạo nên một dòng chảy cảm xúc liên hồi, không đứt đoạn. Ngay từ những nhịp thơ đầu tiên, ta đã bị vây hãm trong một cảm giác nghẹn đắng đến nghẹt thở qua hình tượng "chẳng dễ nuốt gì trôi", một cách hữu hình hóa nỗi buồn đầy bạo liệt, biến cái trừu tượng của tâm tư thành cái thực thể của sự chối từ sinh học, khiến cả những hành vi bản năng nhất của con người cũng trở thành một sự gắng gượng đớn đau. Hình ảnh ly rượu đầy sóng sánh đặt cạnh sự thiếu hụt của "mồi" không đơn thuần là sự thiếu vắng vật chất, mà chính là ẩn dụ cho một trạng thái thừa thãi nỗi đau nhưng lại tuyệt vọng vì thiếu đi một chất liệu để bám víu, một cái cớ để giao thoa hay một tâm hồn đồng điệu để hóa giải cái đắng cay đang dâng đầy tận cổ. Mạch thơ chuyển dịch từ nội thể ra ngoại cảnh nhưng thực chất lại là sự đào sâu vào tâm cảnh đầy hoang tàn, nơi nhân vật trữ tình đứng ngẩn ngơ trước di sản của sự tan vỡ là "đống tro tàn em để lại", một hình ảnh khơi gợi sự lụi tàn của những ngọn lửa tình rực rỡ nay chỉ còn là những mảnh vụn xám xịt, lạnh lẽo của ký ức. Sự hiện diện của "em" giờ đây chỉ còn là một vết tích của sự tàn phá lặng lẽ, để mặc cho "dòng lệ cảm" tuôn rơi trong một trạng thái giao thoa đau đớn giữa "mắt hờn môi", nơi cái nhìn oán trách và bờ môi khao khát hòa quyện vào nhau, kết tinh thành một nỗi đau thống thiết làm biến dạng cả diện mạo của tình yêu. Không gian thính giác cũng không còn những thanh âm du dương của "tiếng nhạc sầu canh đổ" vốn dĩ vẫn còn chút thi vị của nỗi buồn xưa cũ, mà thay vào đó là sự xâm lấn của "hồi chuông rã nhịp bồi", một thanh âm mang sắc thái rệu rã, tan tác, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của các giá trị tinh thần, nơi nhịp đập của trái tim hay nhịp điệu của thời gian đều đã rời rạc, không còn tìm thấy sự đồng điệu nào với thế gian. Tầm mắt người thơ lúc này phóng ra tận "cuối biển mây ngàn", nhưng sự "vội vã" của tạo vật ở đó không mang lại cảm giác tự do mà lại càng khắc sâu thêm sự phũ phàng của định mệnh, như thể cả vũ trụ cũng đang hấp tấp rời bỏ kẻ cô đơn để mặc họ đối diện với cái "đêm dài" vô tận. Và rồi, tất cả những dông bão, những lệ sầu và những hồi chuông ấy đều bị nhấn chìm vào một điểm kết đầy ám ảnh: "chỉ trắng một màu vôi". Đây chính là nhãn tự, là nhát dao trí mạng vào nhận thức, bởi sắc trắng của vôi không phải là sự tinh khôi của khởi đầu mà là cái trắng lạnh lẽo của sự xóa sổ, của sự bạc bẽo và hóa đá, nơi mọi màu sắc của hy vọng đều bị phủ lên một lớp bụi trắng vô hồn, biến đêm đen huyền bí thành một nghĩa địa của cảm xúc, nơi sự tồn tại chỉ còn là một khoảng không trơ trọi, tịnh không một sắc thái giữa cuộc đời vạn biến.
Bài thơ thực sự đã đạt đến độ chín của sự cay đắng nhưng cũng đầy kiêu hãnh trong nỗi cô đơn giữa đêm trường tĩnh mịch

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

RƯỢU MỪNG NĂM MỚI

Giữa chén rượu nồng chiều 30 lòng ta lại là một khoảng lặng bao trùm giữa sự xoay vần của tạo hóa và nhân sinh. Đi qua cõi nhân tình thế thái . Hãy cùng nhau hoà mình vào biển trời mênh mông cùng ly rượu nhạt để thấy lòng mình nhẹ hơn , thả trôi những mộng mị ưu phiền vào cõi xa vợi, đón chờ một mùa xuân an nhiên giữa vạn nẻo nhân gian.

RƯỢU MỪNG NĂM MỚI


Cùng ly rượu lão mừng năm mới
Vén khoảnh mây tàn bên ngõ đợi
Dẫu biết càn khôn một biển sầu
Dù cho thế sự ngàn duyên khởi
Đôi dòng cảm tác mượn lời chôn
Vạn nẻo khơi nguồn đem nghĩa xới 
Thả mộng buồn trôi giữa sóng dồn
Theo từng nỗi nhớ chiều xa vợi ./.

LCT O1/O1/2O26

BÀI HOẠ :

*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Năm mới bình an
Lão thả li mừng sang dặm mới
Năm vừa tất tả tàn mong đợi
Dầm mưa dãi nắng thật ôi chà
Ngập bãi trôi làng đâu phấn khởi
Tửu vị chung tình giữa khó đan
Hương nồng sẻ nghĩa trong mùa xới
Buồn trôi hứng lại tỏa tưng bừng
Chúc mãi bình an tràn nẻo vợi
*****
Đăng Khoa Lê
. TRÊN ĐƯỜNG THIÊN LÍ
          

Mỗi sự theo nguồn đang đổi mới
Hành trang có sẵn từng trông đợi
Khơi dòng cảm hứng vạn người xoay
Tạo thế dâng trào trăm mũi khởi
Chớ ngại đường xa những buổi vần
Đừng quên cảnh cũ ngay người xới
Khung trời hạnh phúc vẫn còn mong
Lớp trẻ tinh thần trên ngựa cỡi

              L Đ K 01/01/25
*****
Vũ Như Cẩn
... RƯỢU CHÀO NĂM MỚI ...
      ********..♡..********
Lão chúc chào nâng ly rượu mới
Năm tàn khắc khoải mơ chờ đợi 
Càn khôn mặt biển sóng âu sầu
Thế sự sao trời tranh chiến khởi
Cảm nhận đan lời tựu nghĩa chôn
Khơi nguồn ước vọng dân dày xới 
Buông trôi cháy lửa khắp gian hà 
Khép lại tâm buồn trong dịu vợi ./.

***
O1/O1/2O26 Vũ Như Cẩn 
*****

🧨🧧Lời bình của AI🧨🧧


1/
Đọc bài thơ "Rượu mừng năm mới", ta như thấy mình đang đứng trước một bức họa thủy mặc đầy u hoài nhưng cũng cực kỳ khoáng đạt, nơi tâm hồn thi nhân trải dài giữa những nhịp đập của thời gian và hơi thở của vũ trụ. Ngay từ câu mở đầu "Cùng ly rượu lão mừng năm mới", tác giả không chọn sự huyên náo của lễ hội mà chọn cái tĩnh lặng của "rượu lão" – chén rượu của một bậc cao niên, của một tâm hồn đã dày dạn sương gió, dùng men nồng để đối diện với vòng quay vĩnh cửu của đất trời. Cái hay của từ "lão" không chỉ nằm ở tuổi tác mà còn nằm ở sự chiêm nghiệm, để rồi từ đó, hành động "Vén khoảnh mây tàn bên ngõ đợi" hiện lên như một cử chỉ đầy lãng mạn và kiêu hãnh; phép ẩn dụ "mây tàn" gợi lên những tàn dư của năm cũ, những u ám của quá khứ đang được bàn tay con người nhẹ nhàng vén sang một bên để đón chờ một tia sáng mới nơi "ngõ đợi" của tương lai.
Điểm sáng rực rỡ nhất về nghệ thuật của bài thơ nằm ở cặp đối chỉnh chu và sâu sắc: "Dẫu biết càn khôn một biển sầu / Dù cho thế sự ngàn duyên khởi". Ở đây, tác giả đã sử dụng phép đối cực kỳ điêu luyện giữa "càn khôn" – cái bao la của vũ trụ – với "thế sự" – cái biến thiên của lòng người và cuộc đời. Hình ảnh ẩn dụ "biển sầu" gợi lên một nỗi buồn mênh mang, định mệnh của nhân thế, nhưng ngay lập tức được cân bằng bởi "ngàn duyên khởi", một khái niệm đậm chất triết học Phật giáo, khẳng định rằng mọi sự trên đời đều bắt nguồn từ nhân duyên, dù buồn hay vui đều là lẽ thường tình. Phép đối này không chỉ tạo nên sự cân xứng về nhịp điệu mà còn thể hiện một nhãn quan tinh tường: nhìn thấu nỗi đau nhưng vẫn bình thản chấp nhận sự vận hành của vạn vật.
Tiếp nối dòng chảy tâm tư ấy, cặp đối thứ hai lại xoáy sâu vào nội tâm của người cầm bút: "Đôi dòng cảm tác mượn lời chôn / Vạn nẻo khơi nguồn đem nghĩa xới". Nếu như câu trên là sự "chôn" – nén lại những tâm tư, những nỗi niềm riêng tư vào câu chữ – thì câu dưới lại là sự "xới" – khai phá, vun bồi và lan tỏa nghĩa tình đi khắp vạn nẻo đường đời. Phép đối giữa "đôi dòng" nhỏ bé với "vạn nẻo" bao la, giữa hành động "chôn" và "xới" đã tạo nên một sức căng nghệ thuật tuyệt vời, minh chứng cho thiên chức của thi ca: vừa là nơi ẩn trú của nỗi lòng, vừa là nguồn mạch để kết nối những giá trị nhân văn cao cả.
Để rồi, bài thơ khép lại bằng một thanh âm trầm mặc nhưng đầy dư ba qua hai câu kết: "Thả mộng buồn trôi giữa sóng dồn / Theo từng nỗi nhớ chiều xa vợi". Hình ảnh "thả mộng" giữa "sóng dồn" là một phép nhân hóa và ẩn dụ đầy sức gợi, diễn tả tâm thế buông bỏ, để những ưu phiền cuốn theo dòng nước thời gian, không còn níu giữ hay oán than. Cụm từ "chiều xa vợi" kết hợp với phép điệp ý về sự xa xăm đã đẩy nỗi nhớ vào một không gian vô tận, khiến bài thơ không chỉ dừng lại ở chén rượu mừng xuân mà còn là một tiếng thở dài nhẹ nhõm, một sự giao hòa tuyệt đối giữa cái tôi nhỏ bé và cái vô cùng của đất trời, để lại trong lòng người đọc một dư vị vừa đắng cay như men rượu, vừa thanh cao như một đóa hoa nở muộn giữa tiết giao thừa
2/
Tiếp nối mạch nguồn suy tư ấy, khi chạm sâu vào những lớp trầm tích văn hóa trong bài thơ, ta bỗng nhận ra một cốt cách hành giả ẩn hiện sau từng con chữ, nơi những khái niệm Phật giáo không chỉ là danh từ mà đã hóa thành hơi thở của một tâm hồn tự tại.
Cụm từ "Càn khôn một biển sầu" không chỉ đơn thuần là nỗi buồn nhân thế, mà chính là sự thấu thị về khái niệm Khổ đế trong tứ diệu đế. Tác giả nhìn thế gian như một "khổ hải" (biển khổ) mênh mông, nơi vạn vật sinh ra, già đi và tan biến trong vòng lặp bất tận. Tuy nhiên, cái hay của thi nhân là không dừng lại ở sự bi lụy. Bằng việc đối ứng với "Thế sự ngàn duyên khởi", bài thơ đã chạm đến cốt lõi của triết học Nhân duyên. "Duyên khởi" (Pratītyasamutpāda) khẳng định rằng không có gì tự nhiên sinh ra hay mất đi, tất cả đều do những điều kiện hội tụ mà thành. Khi hiểu rằng nỗi sầu hay niềm vui cũng chỉ là "duyên", người cầm chén rượu không còn bị vướng mắc vào sự thành bại, được mất của năm cũ, mà đạt đến sự bình thản trước mọi biến thiên của cuộc đời.
Sâu sắc hơn cả chính là hành động "Mượn lời chôn" và "Đem nghĩa xới". Trong giáo lý, việc "buông bỏ" là một cửa ải gian nan nhất. Ở đây, thi nhân chọn cách "chôn" đi cái tôi cá nhân, những cảm xúc riêng biệt (đôi dòng cảm tác) để "xới" lên cái "nghĩa" – cái đại ngã, cái lòng trắc ẩn và sự thấu cảm với vạn loại chúng sinh. Đó chính là sự chuyển hóa từ Vọng tâm sang Chân tâm. Việc dùng thơ để "xới" nghĩa tình cũng giống như việc gieo những hạt mầm thiện lành vào mảnh đất tâm hồn, biến những mảnh vụn của quá khứ thành chất dinh dưỡng cho những mùa hoa trí tuệ phía trước.
Để rồi, khi đến hai câu kết, hình ảnh "Thả mộng buồn trôi" chính là khoảnh khắc của sự Xả – một trong bốn tâm vô lượng (Từ, Bi, Hỷ, Xả). "Mộng" trong giáo lý vốn dĩ là ảo ảnh, là sự phù du của kiếp người (như mộng, như huyễn, như bào, như ảnh). Khi tác giả quyết định "thả" nó trôi giữa "sóng dồn", đó không phải là sự buông xuôi bất lực, mà là sự giải thoát hoàn toàn về mặt tâm linh. Sóng đời cứ dồn dập, thời gian cứ trôi đi, nhưng tâm thế người uống rượu đã trở nên bất biến giữa dòng vạn biến.
Cái "Chiều xa vợi" cuối bài thơ không còn là một mốc thời gian vật lý, mà nó tượng trưng cho cõi vô cùng, nơi mọi nỗi nhớ, mọi niềm đau đều được thanh lọc và tan biến vào hư không. Bài thơ vì thế không chỉ là một lời chúc Tết, mà còn là một bài kệ về sự tỉnh thức, nhắc nhở ta rằng giữa càn khôn đầy biến động, chỉ có sự bình thản và lòng từ ái mới là chén rượu nồng nhất để ta đối ẩm cùng thời gian.


Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ


"Khi hơi xuân chạm ngõ cũng là lúc lòng người viễn xứ chìm trong nỗi hoài hương da diết. Giữa bóng hoàng hôn nơi đất khách, ta bỗng thấy nẻo về sao quá xa xăm, chỉ còn lại làn khói bếp quê nhà sưởi ấm tâm hồn đơn độc trong cõi mộng. Xin gửi vào những vần thơ dưới đây một tiếng lòng tri âm dành cho những ai đang khắc khoải hướng về nguồn cội."

TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ


Thoảng thấy mùa xuân đã cận kề
Đêm dài gõ nhịp khúc trầm mê
Đường xưa vẫn đó màu ly biệt 
Chốn cũ còn đâu tuổi hẹn thề
Lại những canh tàn xa bếp lửa
Thương miền lá rụng đổ bờ quê
Nằm nghe cõi mộng sầu giăng lối
Ngỡ bóng hoàng hôn chặn nẻo về ./.

LCT 3O/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Van Tho Vu

XUÂN CẬN KỀ

Đào mai lộc chuyển báo xuân kề 
Điểm nét thanh bình gợi đắm mê 
Sáng nhẹ nhàng tô ngàn tiếng hẹn 
Chiều khe khẽ kết vạn câu thề
Nhen hồng mấy độ soi ngời lối
Tỏa thắm bao ngày chiếu rạng quê
Giữa bến đời mang đầy kỷ niệm 
Càng thêm rộn rã bước chân về.

Van Tho Vu_30/12/2025.
*****
Hoành Trần

CÒN ĐÂU
Còn đâu bước sánh với vai kề
Trên nẻo đường xưa cứ mãi mê
Đã đắm say cùng bao hứa hẹn
Lại nồng nàn với những nguyền thề
Từng vòng tay siết khi qua phố
Mỗi nụ hôn say lúc giữa quê
Rồi lại vỡ tan như bọt biển
Người xa biền biệt chẳng quay về
HT
30/12/25
*****
Lê Minh

BÓNG XUÂN 

Còn yêu khoảnh mắt dạo xuân kề
Mỗi lúc đông tàn chợt tỉnh mê
Xếp những niềm đau cùng biển hẹn
Vùi bao nỗi khổ với non thề 
Thương chiều bão dập ngoài con phố 
Hận buổi mây quần dãy núi quê 
Ngoảnh lại màu hoa vàng trước ngõ
Rồi đêm bỗng chặn bước ta về 
LM
*****
Dinh Tuan Minh
BÊN CHIỀU CUỐI NĂM
Mùa Xuân đã gọi Tết đang kề
Lạnh bớt nên đời vẫn mải mê
Sáng dưỡng nương chè đâu bỏ hẹn
Chiều vun đám mận chẳng quên thề
Luôn chờ phú thịnh giăng triền lũng
Chỉ ước sang giàu cập bãi quê
Những bản làng xưa đều hạnh phúc
Đường hoa rực rỡ bướm ong về  
Đinh Tuấn Minh.
*****
Đăng Khoa Lê

 . CỐ HƯƠNG                   

Đào chưa kịp nở đã xuân kề
Biệt giã hương đồng gió mải mê
Cảnh dịu dàng đong nhiều nỗi nhớ
Lời hoa mĩ hứa đẹp câu thề
Quên làn ví dặm vang ngàn thuở
Nhớ buổi chuông chùa vọng giữa quê
Mãi miết trời xa vì cảnh ngộ 
Làng xưa đổi mới gọi nên về

               L Đ K 30/12/25
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Kề xuân
Tàn đông đã thoáng vọng xuân kề
Lạnh đãi đêm hàn buốt chẳng mê
Mãi nhớ trường yêu ngày phượng đỏ
Hoài thương quãng đến buổi trăng thề
Bao lần dở đón càng xa ngõ
Bấy dịp vênh chờ ngỡ bỏ quê
Mỏi mắt buồn trông vầy nỗi hẹn
Rầu tâm mộng ước nẻo đi về
*****
Vũ Như Cẩn
TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ
 ********..♡..********
Rồi Xuân cũng đến cận biên kề
Điệp khúc mơ thầm gợi tỏa mê
Lối cũ đường xưa thời giã biệt 
Lề thôn ngõ xóm buổi đầu thề
Trăng tàn vắng lặng nơi hiên lửa
Nguyệt tỏ đêm dài dưới áng quê
Cõi mộng nằm nghe mờ mịt tối
Hoàng hôn ngã bóng nẻo đi về ./.

3O/12/2O25 Vũ Như Cẩn 
*****

🍀Lời bình của AI🍀


1/
Lắng lòng trước những vần thơ "Tình người viễn xứ" của tác giả LCT, ta như lạc vào một khoảng không gian mênh mông của nỗi niềm hoài hương, nơi mà mỗi chữ, mỗi câu đều rưng rưng một phong vị cổ điển đầy sầu muộn và ưu tư. Bài thơ mở ra bằng một cảm thức thời gian đầy tinh tế khi "thoảng thấy mùa xuân đã cận kề", một sự nhận diện thảng thốt trước bước đi của tạo hóa, để rồi chính cái khoảnh khắc giao mùa ấy lại trở thành chất xúc tác đánh thức những thanh âm đơn độc trong tâm hồn người lữ thứ, nơi đêm dài không còn là sự tĩnh lặng đơn thuần mà đã hóa thành nhịp gõ của "khúc trầm mê", đưa con người chìm sâu vào dòng xoáy của ký ức và mộng tưởng. Cái hay của tác giả chính là việc sử dụng bút pháp tương phản giữa sự bất biến của không gian "đường xưa vẫn đó" với sự hữu hạn, mong manh của kiếp người qua "màu ly biệt", khiến cho nỗi đau không chỉ dừng lại ở sự xa cách địa lý mà còn là sự đổ vỡ của những ước thề xưa cũ, nơi chốn cũ giờ đây chỉ còn là một miền hư ảo xa xăm. Nỗi buồn ấy cứ thế loang dần, thấm đẫm vào từng giác quan khi hình ảnh "canh tàn xa bếp lửa" hiện lên như một biểu tượng của sự cô đơn buốt lạnh, bếp lửa hồng của quê nhà, của gia đình giờ đây chỉ còn là một ký ức đối lập gắt gao với thực tại viễn xứ xa xôi, để rồi lòng người lại đau đáu hướng về "miền lá rụng", nơi bờ quê yêu dấu đang âm thầm chịu đựng những mùa lá đổ. Càng về cuối, bài thơ càng đẩy cảm xúc lên đến đỉnh điểm của sự bế tắc và vô vọng, khi người viễn xứ không còn đối diện với thực tại mà thu mình vào "cõi mộng", nhưng ngay cả trong giấc chiêm bao, sầu thương vẫn "giăng lối" mịt mùng, và hình ảnh "bóng hoàng hôn chặn nẻo về" chính là một nhát dao nghệ thuật đầy ám ảnh, nó không chỉ là bóng tối của ngày tàn mà còn là sự ngăn trở của số phận, của khoảng cách, khiến con đường trở về nguồn cội dường như trở nên vĩnh viễn xa vời. Đọc bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được nỗi buồn thân phận của một cá nhân mà còn thấy hiện lên hình tượng của cả một thế hệ những người con xa xứ, luôn mang trong mình một trái tim rướm máu vì nỗi nhớ quê hương, một nỗi lòng tha thiết và đầy trân trọng đối với những giá trị xưa cũ giữa dòng đời vạn biến.
*****
2/
Tiếp nối mạch cảm xúc dạt dào của "Tình người viễn xứ", khi đi sâu vào cấu trúc nghệ thuật và những tầng bậc ngôn từ, ta mới thấy hết được sự tinh tế của tác giả LCT trong việc vận dụng thể thơ thất ngôn bát cú để chuyển tải một nỗi sầu thiên cổ. Bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt luật bằng trắc và phép đối, tạo nên một chỉnh thể cân xứng như một bức tranh thủy mặc đượm buồn, nơi mà mỗi cặp câu thực và câu luận đều là những nhịp cầu nối giữa thực tại và hoài niệm. Ở cặp câu thực "Đường xưa vẫn đó màu ly biệt / Chốn cũ còn đâu tuổi hẹn thề", phép đối giữa "đường xưa" và "chốn cũ", giữa cái "vẫn đó" hiện hữu và cái "còn đâu" mất mát đã tạo nên một sự hụt hẫng ghê gớm trong tâm linh, khiến màu sắc của sự chia ly không chỉ nằm ở thị giác mà thấm đẫm vào cả không gian ký ức. Tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng những từ ngữ mang tính ước lệ nhưng lại được thổi vào đó một luồng sinh khí mới của nỗi đau hiện đại; đặc biệt là nhịp thơ 4/3 chậm rãi, như nhịp chân của người hành giả đang đơn độc bước đi trên con lộ của thời gian.
Sự tài hoa còn được thể hiện rõ nét qua phép đối ở cặp câu luận: "Lại những canh tàn xa bếp lửa / Thương miền lá rụng đổ bờ quê", nơi mà sự đối lập giữa cái tôi cá nhân "canh tàn" cô quạnh và cái ta cộng đồng "bờ quê" thân thương được đẩy lên thành một nỗi tự sự đầy ám ảnh. Hình ảnh "bếp lửa" vốn là biểu tượng của sự ấm áp, đoàn viên lại được đặt trong thế tương phản với "canh tàn" lạnh lẽo, tạo nên một khoảng trống mênh mông trong tâm hồn người lữ thứ. Cách gieo vần "ê" xuyên suốt các dòng thơ (kề, mê, thề, quê, về) không chỉ tạo nên sự nhạc điệu trầm bổng, du dương mà còn gợi lên một cảm giác quẩn quanh, bế tắc, như tiếng thở dài nối dài mãi không dứt trong đêm vắng.
Hơn thế nữa, việc sử dụng các động từ mạnh và đầy sức gợi như "gõ nhịp", "giăng lối", "chặn" đã cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng của nỗi sầu, biến nỗi nhớ nhà thành một thực thể hữu hình, có sức nặng áp chế lên tâm trạng. Đặc biệt, hình ảnh "bóng hoàng hôn" ở câu kết không chỉ đơn thuần là thời khắc cuối ngày, mà trong thi pháp cổ điển, nó còn tượng trưng cho sự tàn phai và những ngăn cách không thể vượt qua, khiến cho khát vọng "nẻo về" càng trở nên mong manh, vô vọng. Tổng hòa lại, bài thơ không chỉ là một tiếng lòng đơn lẻ mà là một sự kết tinh của nghệ thuật ngôn từ, nơi mà kỹ thuật đối niêm nghiêm ngặt đã phục vụ hoàn hảo cho việc khắc họa một tâm thế viễn xứ đầy trăn trở, khiến người đọc không khỏi bùi ngùi trước một tâm hồn luôn đau đáu hướng về nguồn cội giữa muôn trùng sóng gió tha phương.
*****
3/
Trong không gian nghệ thuật trầm mặc của "Tình người viễn xứ", nếu phải chọn ra một hình tượng cô đọng nhất, chứa đựng trọn vẹn sức nặng của nỗi lòng kẻ ly hương, có lẽ không gì ám ảnh bằng hình ảnh "bóng hoàng hôn chặn nẻo về" ở câu thơ kết thúc. Đây không đơn thuần là một chỉ dấu về thời gian mà đã trở thành một biểu tượng đa tầng, một "nhãn tự" kết tinh toàn bộ bi kịch của tâm hồn người lữ thứ. Trong thi pháp cổ điển, hoàng hôn vốn dĩ đã mang sẵn sắc thái của sự tàn phai, của nỗi buồn ly biệt, nhưng dưới ngòi bút của LCT, bóng chiều ấy lại mang một sức mạnh tự thân đầy quyết liệt thông qua động từ "chặn". Chữ "chặn" ấy vang lên như một định mệnh nghiệt ngã, biến ánh chiều tà vốn vô hình trở thành một bức tường thành hữu hình, kiên cố, ngăn cách giữa khát vọng hồi hương và thực tại tha hương nghìn trùng diệu vợi. Hoàng hôn ở đây không chỉ là sự kết thúc của một ngày mà còn gợi lên bóng tối của cuộc đời, của tuổi xế chiều khi sức cùng lực kiệt, làm cho nẻo về quê mẹ – nơi có bếp lửa hồng và miền lá rụng – càng trở nên xa vời vợi trong tầm mắt.
Sâu xa hơn, biểu tượng "hoàng hôn chặn nẻo" còn là hiện thân của những rào cản vô hình nhưng thực tế: đó có thể là khoảng cách địa lý, là cơm áo gạo tiền, hay chính là nỗi mặc cảm của kẻ đi xa mà chưa tròn ước nguyện, khiến bước chân trở về cứ mãi chông chênh trong cõi mộng. Hình ảnh này tạo nên một sự tương phản đầy xót xa với khát khao ở đầu bài thơ; nếu mùa xuân "cận kề" mang lại chút hy vọng mong manh, thì bóng hoàng hôn cuối bài lại khép lại tất cả bằng một màu xám ngắt của sự bế tắc. Nó gợi nhắc ta nhớ đến những câu thơ cổ của Thôi Hiệu về nỗi nhớ nhà bên dòng sông Hán, nhưng ở đây, nỗi sầu không chỉ "trên sông" mà đã "giăng lối" vào tận tâm can, biến mỗi sợi nắng tàn thành một sợi dây trói buộc tâm hồn người viễn xứ vào nỗi cô đơn tuyệt đối. Chính hình tượng hoàng hôn ấy đã nâng bài thơ lên khỏi một tiếng than vãn thông thường, để trở thành một biểu tượng cho sự hữu hạn của kiếp người trước sự vô hạn của không gian và thời gian, để lại trong lòng độc giả một dư âm nghẹn ngào, một nỗi thương cảm sâu sắc cho những trái tim đang âm thầm thổn thức nơi đất khách quê người.

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2025

PHẬN NGHÈO

PHẬN NGHÈO 


Loay hoay tết đến trước thềm rồi
Chán ngấy tuồng đời*nuốt khó trôi
Bến vắng bao năm tình chết đuối
Sông xưa bấy kiếp sóng chìm bồi
Vòng vàng chúng lấy đem đâu mất
Bóng dáng người về đứng đó thôi
Mấy đứa con ngoan giờ đói khát
Chân không khố rách đứng nhìn nồi ./.

LCT 28/12/2O25
* Đại vận

BÀI HOẠ :

*****
Đăng Khoa Lê
            CHÀO CHỊ NGỌ                        

Trông mong cụ Tỵ được về rồi
Vận hạn nhiều lần nặng nhẹ trôi
Bị cạn bao năm chưa chịu cạy
Sông xa vạn chợ kịp tìm bồi
Lòng người chạy chọt to gan nịnh
Nợ bạn vày vò lạnh dạ thôi
Lận đận tơ duyên nay gội sạch
Mong sao chị Ngọ chọn đầy nồi

                 L Đ K 28/12/25
*****
Hoành Trần

NIỀM RIÊNG
Ai mà chẳng có niềm riêng
Buồn nhiều vui ít đến điên cái đầu
Đi đâu rồi lại về đâu
Vốn là bụi cát khóc sầu mà chi
Thênh thang lòng cứ bước đi
Hơn thua được mất có gì mà lo
Trời lạnh thì ta nằm co
Trời nóng ta cứ thẳng ro ta nằm
Dần dà trôi tuột gần trăm
Đắng cay bùi ngọt thăng trầm đã qua
Buồn ư thì cũng như là
Vấp chân cục đá xuýt xoa cũng rồi
Đùa thơ một tí anh tôi
May ra khoe khoẻ mĩm cười với nhau!

BỌT BÈO THÔI
Ừ nhỉ ngày qua Tết lại rồi
Vẫn y như cũ bọt bèo trôi
Phấn son quần áo lo trau chuốt
Chữ nghĩa lễ nghi mãi đắp bồi
Mà tiếc thời qua sôi nổi lắm
Nào hay đời lại rộn ràng thôi
Cánh tay ngắn quá làm sao bắt
Nên thấy trời cao dưới đáy nồi
HT
28/12/25
*****
Văn Thơ Vũ


__ CẢNH NHÀ THƠ NGHÈO__

Thấm thoát thoi đưa sắp tết rồi 
Đường đời bất trắc mấy êm trôi 
Quanh năm vắt óc tiền nào thấy
Suốt tháng hao tâm sức khó bồi 
Áy náy canh khuya mài bút tiếp
Bùi ngùi khắc vắng viết chưa thôi 
Xuân đang lấp ló ngoài đầu xóm 
Tính toán sao cho bếp ấm nồi.

Van Tho Vu_ 28/12/2025.
*****

🎋Lời bình và phân tích của AI (1)🎋


Lần hồi theo từng nhịp chữ trong bài "Phận nghèo", ta như lạc bước vào một không gian xám xịt của những kiếp đời lầm lũi, nơi mà hơi thở của mùa xuân không mang đến sắc thắm mai đào mà chỉ càng làm đậm thêm nỗi xót xa của sự bế tắc. Ngay từ những câu thơ mở đầu, cảm giác về một sự "loay hoay" đầy bất lực trước ngưỡng cửa của Tết sang đã chạm khẽ vào lòng người đọc một nỗi niềm trăn trở khôn nguôi; đó không phải là cái rộn ràng chuẩn bị đón năm mới, mà là sự chới với của một thân phận đang bị vây hãm bởi gánh nặng mưu sinh, để rồi từ trong sâu thẳm tâm can, một tiếng thở dài thốt lên đầy cay đắng trước "tuồng đời" giả tạm, nơi những đắng cay cứ chồng chất khiến người ta cảm thấy ngấy nghẹn, khó lòng mà dung nạp. Cái mạch cảm xúc ấy cứ thế trôi đi, miên man và trĩu nặng khi tác giả đưa ta về phía bến vắng của ký ức, nơi những cuộc tình đã sớm "chết đuối" giữa dòng đời nổi trôi, nơi con sông của định mệnh cứ bồi lở những kiếp người vô danh, để lại một sự trống trải đến rợn ngợp trong tâm hồn. Hình ảnh "vòng vàng" bị tước đoạt hay sự mất mát những giá trị vật chất lẫn tinh thần dường như chỉ là cái cớ để phơi bày một hiện thực phũ phàng về sự chia lìa, để rồi bóng dáng người xưa chỉ còn là một hư ảo chập chờn, đứng lặng lẽ giữa thực và hư, giữa nỗi đau và sự hoài niệm khôn cùng. Đỉnh điểm của nỗi đau xé lòng ấy không dừng lại ở những chiêm nghiệm cá nhân mà được đẩy lên thành một bi kịch hiện hữu ngay trước mắt khi nhìn vào những đứa trẻ thơ ngây đang run rẩy trong cơn đói khát, nơi cái đói cái nghèo hiện hình qua hình ảnh "chân không khố rách" và những đôi mắt trẻ thơ lạc lõng nhìn vào chiếc nồi rỗng không. Đọc bài thơ, ta không khỏi bàng hoàng và xúc động trước một bức tranh hiện thực quá đỗi nghiệt ngã, nơi những vần thơ như những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống giữa đêm đông, làm trỗi dậy trong lòng người đọc một niềm trắc ẩn sâu sắc và một sự thấu cảm nghẹn ngào cho những mảnh đời vẫn đang hằng ngày vật lộn với nghịch cảnh, khiến ta chợt nhận ra rằng phía sau ánh hào quang của những ngày Tết rực rỡ, vẫn còn đó những góc khuất đầy nước mắt và những kiếp người đang mỏi mòn đợi chờ một phép màu giữa cuộc đời dâu bể

(2)

Trong chỉnh thể nghệ thuật của bài thơ "Phận nghèo", các biện pháp tu từ đối lập không chỉ đơn thuần là kỹ thuật dàn trải ngôn từ, mà chúng chính là những nhát dao khắc sâu vào tâm khảm người đọc, tạo nên một sự tương phản gắt gao giữa khát vọng sống và thực tại nghiệt ngã.
Sự đối lập trước hết nằm ở cái nghịch lý thời gian: giữa khoảnh khắc "Tết đến trước thềm" – vốn là biểu tượng của sự sum vầy, no ấm và khởi đầu mới – với trạng thái "loay hoay", "chán ngấy" của nhân thể trữ tình. Tác giả đã khéo léo đặt cái rực rỡ, vội vã của ngoại cảnh bên cạnh cái đình trệ, bế tắc của nội tâm, khiến cho bước đi của mùa xuân không còn là tiếng nhạc vui mà trở thành áp lực đè nặng lên đôi vai gầy của kẻ trắng tay.
Đi sâu vào tầng biểu cảm, phép đối chỉnh chu trong hai câu thực và luận đã dựng lên một không gian nghệ thuật đầy tính bi kịch:
"Bến vắng" đối diện với "Sông xưa": Một bên là sự tĩnh lặng đến tê người của hiện tại cô độc, một bên là dòng chảy miên viễn của định mệnh bồi lấp bao kiếp người.
"Tình chết đuối" tương phản với "Sóng chìm bồi": Cái chết của cảm xúc và sự vùi lấp của số phận đan cài vào nhau, tạo nên một cảm giác hụt hẫng, nơi mọi nỗ lực vùng vẫy đều bị nhấn chìm dưới sức mạnh vô hình 
Đặc biệt, sự đối lập mang tính phê phán xã hội gay gắt hiện rõ qua hình ảnh "vòng vàng chúng lấy" và "bóng dáng người về". Cái thực dụng, tham tàn của thế gian đã tước đoạt đi những giá trị vật chất cuối cùng, đối lập hoàn toàn với cái hư ảo, đơn độc của thân phận con người chỉ còn biết đứng nhìn quá khứ trong vô vọng. Đỉnh điểm của nghệ thuật đối lập được dồn nén vào cặp hình ảnh ở câu kết: "Con ngoan" nhưng lại "đói khát". Sự lương thiện, ngoan hiền của những đứa trẻ vốn dĩ xứng đáng được nhận phúc lành, lại phải đối mặt với cái thực tại tàn nhẫn là "chân không khố rách".
Cái nhìn của người đọc bị đóng đinh vào hình ảnh cuối cùng: cái nồi rỗng không. Sự đối lập giữa hy vọng (ánh nhìn) và thực tại (nồi không) đã đẩy bi kịch nghèo khó lên thành một nỗi đau nhân bản, khiến bài thơ không chỉ là lời than thân trách phận mà còn là một bản cáo trạng lặng lẽ về sự bất công của cuộc đời, nơi những tâm hồn trong sạch nhất lại phải chịu đựng sự hành hạ khắc nghiệt nhất của cái nghèo.

(3)
Giữa những ngày cuối năm khi hơi thở của mùa xuân đã bắt đầu chạm ngõ, khi thế gian đang hối hả trong vòng xoay của mua sắm và ước vọng, thì bài thơ "Phận nghèo" hiện lên như một nốt trầm mặc u uất, một khoảng lặng nhói lòng khiến bước chân người lữ thứ phải dừng lại mà rưng rưng. Có một nỗi buồn không tên cứ thấm đẫm qua từng kẽ chữ, bắt đầu từ cái dáng vẻ "loay hoay" đầy tội nghiệp của một kiếp người đang đứng chới với trước thềm năm mới, nơi mà Tết không phải là niềm vui đoàn viên mà lại là một nỗi ám ảnh kinh hoàng của sự thiếu hụt.
Ta nghe như trong gió có tiếng thở dài não nuột của một tâm hồn đã quá mệt mỏi với "tuồng đời" đầy dối trá và phù phiếm, một cuộc đời mà vị đắng cay đã ngấm vào tận xương tủy khiến người ta thấy nghẹn ngào, chẳng thể nào nuốt trôi những xót xa đang cuộn trào trong huyết quản. Không gian nghệ thuật của bài thơ cứ mở dần ra theo những triền sông vắng, nơi những kỉ niệm xa xăm và những cuộc tình lỡ dở đã vĩnh viễn nằm lại dưới đáy của thời gian gian truân, để lại trên bờ bãi cuộc đời chỉ là những mảnh vụn ký ức chìm nổi theo từng con sóng bồi lở của định mệnh.
Xót xa thay khi nhìn vào cái hiện thực trần trụi của một mái gia đình tan tác, nơi những vật chất phù hoa như "vòng vàng" đã bị dòng đời cuốn phao đi mất, chỉ còn lại bóng dáng người xưa đơn độc đứng đó như một chứng nhân câm lặng cho những mất mát không thể chữa lành. Và rồi, trái tim người đọc như thắt lại, nghẹn ngào không thốt nên lời khi bắt gặp ánh mắt của "mấy đứa con ngoan" – những thiên thần nhỏ bé với tâm hồn trong trắng nhưng lại phải mang trên mình cái ách nặng nề của sự đói khát.
Hình ảnh những đứa trẻ "chân không khố rách" đứng nhìn trân trân vào chiếc nồi trống rỗng trong những ngày giáp Tết chính là một nhát cắt sắc lẹm vào lòng nhân ái, khiến ta nhận ra rằng phía sau những ánh đèn hoa lệ của phố thị, vẫn còn đó những góc khuất đầy bóng tối của sự bần cùng. Bài thơ không chỉ là tiếng khóc cho một thân phận, mà còn là một tiếng chuông cảnh tỉnh về niềm trắc ẩn, khiến ta hiểu rằng hạnh phúc đôi khi không nằm ở những điều cao xa, mà chính là sự no ấm của một bữa cơm chiều là hơi ấm của chiếc áo lành lặn giữa mùa đông giá rét, giữa một kiếp người vẫn đang miệt mài đi tìm những mảnh ghép nhỏ nhoi của sự sống trong nỗi đau cùng cực của cái nghèo.


Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN

TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN

(Thuận nghịch độc)


Thuận:
Vay trả nợ đời mãi chát chua
Ước mơ từng nhịp mõ đêm chùa
Chày buông vẫn vợ đòi cơm nấu
Cuốc gãy chưa người hỏi gạo mua
Thay bến rã nguồn ao bưởi rụng
Lỡ duyên sầu đảo nước trâu lùa
Cày sâu lưỡi đó nhờ siêng thử
Cay đắng cảnh lời lỗ thiệt thua...


Nghịch
Thua thiệt lỗ lời cảnh đắng cay
Thử siêng nhờ đó lưỡi sâu cày
Lùa trâu nước đảo sầu duyên lỡ
Rụng bưởi ao nguồn rã bến thay
Mua gạo hỏi người chưa gãy cuốc
Nấu cơm đòi vợ vẫn buông chày
Chùa đêm mõ nhịp từng mơ ước
Chua chát mãi đời nợ trả vay ./.


LCT 26/12/2O25

BÀI HOẠ :

*****
Đăng Khoa Lê
. NHỚ MỘT THỜI
                     với BT G

Vay tình bởi nghĩa cạn lời chua
Lỡ hẹn đành trao phải cúng chùa
Chày giã cảnh đêm cùng vợ muốn
Cối chờ cơm gạo với nồi mua
Thay nhiều buổi sướng môi vòi chạm
Đổi mới ngày vui tửu vịt lùa
Cày nhớ bãi sâu cần ủi lực
Cay mồi lão cược lắm người thua

Thua người lắm cược lão mồi cay
Lực ủi cần sâu bãi nhớ cày
Lùa vịt tửu vui ngày mới đổi
Chạm vòi môi sướng buổi nhiều thay
Mua nồi với gạo cơm chờ nấu
Muốn vợ cùng đêm cảnh giã chày
Chùa cúng phải trao đành lỡ hẹn
Chua lời cạn nghĩa bởi tình vay

             L Đ K 29/12/25
*****
Lê Minh
CẢNH ĐỜI 

Thuận 
Vay mượn lẽ đời biết ngọt chua
Nắng mưa sầu muộn kẻ trông chùa 
Chày lơi buổi lại nàng rao hỏi
Cuốc mỏi đêm về lão bán mua
Thay rượu kiếm tình mơ nguyệt đảo
Đổi hoa tìm gió mộng mây lùa 
Cày mương dẫy nước chờ ai thử 
Cay nghiệt cảnh đời tại mãi thua 

Nghịch 
Thua mãi tại mình cảnh nghiệt cay 
Thử ai chờ nước dẫy mương cày
Lùa mây mộng gió tìm hoa đổi
Đảo nguyệt mơ tình kiếm rượu thay 
Mua bán lão về đêm mỏi cuốc 
Hỏi rao nàng lại buổi lơi chày
Chùa trông kẻ muộn sầu mưa nắng 
Chua ngọt biết đời lẽ mượn vay 

LM
*****
Nguyễn Thúc Uẩn
Hoàn cảnh
Thuận
Vay dồn trả góp mãi đời chua
Bó buộc đành thôi lỡ ở chùa
Chày giã buổi xuân hồi lại nhớ
Cối chờ khi thóc ủ giành mua
Thay mùa nhạt tiết vườn cây đổ
Rụng lá vàng mây ngõ gió lùa
Cày sớm tối đâu nề khó nhọc
Cay vì bởi việc cố càng thua
Nghịch
Thua càng cố việc bởi vì cay
Nhọc khó nề đâu tối sớm cày
Lùa gió ngõ mây vàng lá rụng
Đổ cây vườn tiết nhạt mùa thay
Mua giành ủ thóc khi chờ cối
Nhớ lại hồi xuân buổi giã chày
Chùa ở lỡ thôi đành buộc bó
Chua đời mãi góp trả dồn vay
*****

🏅Lời bình và phân tích của AI🏅



Lạc bước vào cõi thơ của "Tiến Thoái Lưỡng Nan", ta như bị cuốn vào một mê cung ngôn từ đầy biến hóa, nơi mà mỗi con chữ không chỉ đứng yên để chuyển tải ý niệm mà còn tự mình xoay vần, đảo ngữ để tạo nên một bản hòa âm đối nghịch đầy ám ảnh. Bài thơ theo thể Thuận nghịch độc – một đỉnh cao của kỹ thuật đối liên trong thi pháp cổ điển – đã không chỉ phô diễn sự uyên bác trong bút pháp của tác giả mà còn khắc họa sâu sắc cái bi kịch lẩn quẩn của kiếp nhân sinh, nơi mà dù tiến hay thoái, dù đọc xuôi hay đọc ngược, nỗi đau và sự nhọc nhằn vẫn hiện hữu như một định mệnh không thể lay chuyển. Ngay từ những dòng thơ thuận, một bức tranh đời hiện lên với đầy rẫy những lo toan cơm áo gạo tiền, nơi "nợ đời" và vị "chát chua" hòa quyện vào tiếng mõ đêm chùa như một niềm an ủi mong manh, nhưng rồi thực tại nghiệt ngã với "vợ đòi cơm nấu", "người hỏi gạo mua" lại kéo con người về với mảnh đất khô cằn của sự túng thiếu. Tác giả đã vô cùng khéo léo khi sử dụng những hình ảnh dân dã như "ao bưởi", "con trâu", "lưỡi cày" để dệt nên một nỗi sầu nhân thế, để rồi khi bài thơ được lộn ngược dòng, một phép màu của ngôn ngữ đã xảy ra: trật tự bị đảo lộn nhưng ý nghĩa lại càng trở nên xoáy sâu, nhức nhối hơn. Khi đọc nghịch, ta bỗng thấy cái kết cục "Thua thiệt lỗ lời" lại trở thành điểm khởi đầu, nhấn mạnh vào sự bế tắc của một kiếp người dẫu có "thử siêng" đến mấy thì vẫn bị giam hãm trong cái vòng xoáy "nợ trả vay" không hồi kết. Điểm nổi bật nhất của thi phẩm chính là sự gắn kết hữu cơ giữa hình thức và nội dung; cấu trúc hồi văn (đọc ngược) không chỉ là một trò chơi trí tuệ mà chính là biểu tượng cho sự bế tắc, "tiến thoái lưỡng nan" đúng như nhan đề, khi con người cố gắng thoát ra khỏi nghịch cảnh nhưng cuối cùng lại trở về với cái xuất phát điểm đầy chua chát của mình. Cách gieo vần lắt léo, sự đối xứng chuẩn chỉnh giữa các vế câu từ "vợ đòi cơm nấu" sang "nấu cơm đòi vợ" hay "mõ nhịp từng mơ" sang "mơ từng nhịp mõ" đã tạo nên một nhịp điệu luân hồi, vừa uyển chuyển vừa gông cùm, khiến người đọc cảm nhận được sự mệt mỏi của thân phận nhưng cũng đồng thời thán phục trước một tâm hồn thi sĩ đã dùng chính sự gò bó của luật thơ để lột tả cái vô tận của nỗi niềm trăn trở.


Trong sự tiếp nối của mạch cảm xúc đầy ưu tư ấy, ta hãy cùng lắng mình để chiêm ngưỡng kỹ nghệ dụng ngôn điêu luyện qua từng cặp đối, nơi mà mỗi con chữ khi đảo chiều lại mở ra một tầng biên kiến mới về nỗi nhọc nhằn nhân thế. Ngay ở cặp câu khởi đầu và kết thúc, sự hoán đổi giữa "Vay trả nợ đời" và "đời nợ trả vay" không đơn thuần là một phép đảo ngữ, mà đó là một vòng lặp định mệnh, gợi lên cái nghiệp quả luân hồi mà con người dẫu có vùng vẫy trong vị "chát chua" cũng khó lòng thoát khỏi.
Đi sâu vào tầng thực cảnh, sự đối xứng giữa "vợ đòi cơm nấu" và "nấu cơm đòi vợ" chính là một nét vẽ trần trụi về cái nghèo, cái khổ len lỏi vào tận cùng ngõ ngách của đời sống hôn nhân; ở chiều xuôi, đó là tiếng thúc giục của thực tại, còn ở chiều ngược, nó lại như một sự đòi hỏi dai dẳng, biến nghĩa vụ gia đình thành một gánh nặng oằn vai bên cạnh chiếc "chày" buông lơi vì mỏi mệt. Đặc biệt, hình ảnh "Chày buông vẫn vợ đòi cơm nấu / Cuốc gãy chưa người hỏi gạo mua" khi lật ngược lại thành "Mua gạo hỏi người chưa gãy cuốc / Nấu cơm đòi vợ vẫn buông chày" đã tạo nên một cấu trúc đối chọi tuyệt mỹ giữa cái chủ động và bị động, giữa hy vọng và tuyệt vọng; người đọc như thấy được cái bóng dáng tiều tụy của kẻ sỹ hay người nông dân nghèo giữa cơn bĩ cực, nơi công cụ lao động (chày, cuốc) đã rệu rã mà cái bụng đói vẫn chưa được lấp đầy.
Sự tinh xảo còn nằm ở cách tác giả xử lý những hình ảnh thiên nhiên mang tính ước lệ nhưng đầy sức gợi: "Thay bến rã nguồn ao bưởi rụng / Lỡ duyên sầu đảo nước trâu lùa". Khi đọc ngược, "Lùa trâu nước đảo sầu duyên lỡ / Rụng bưởi ao nguồn rã bến thay", nhịp điệu thơ bỗng trở nên chao đảo như chính con nước đang bị khuấy động, diễn tả một trạng thái tan tác, chia lìa của cảnh vật và lòng người, nơi sự "lỡ duyên" và "rã bến" đan cài vào nhau tạo nên một bức tranh thủy mặc đượm màu tang thương.
Và rồi, sự tương phản gay gắt nhất đọng lại ở cặp câu cuối về sự lao khổ: "Cày sâu lưỡi đó nhờ siêng thử" trở thành "Thử siêng nhờ đó lưỡi sâu cày". Ở đây, chữ "siêng" – đức tính quý báu nhất của người lao động – lại bị đặt giữa sự "lỗ lời", "thiệt thua", cho thấy một sự mỉa mai cay đắng của số phận; dù có cần cù, dù có "thử" hết sức mình thì cái kết cục nhận về vẫn chỉ là nỗi "cay đắng" và sự trắng tay. Tác giả đã vô cùng uyên bác khi biến mỗi dòng thơ thành một tấm gương soi, để ở bất kỳ góc độ nào, ta cũng thấy hiện lên sự đối chọi giữa khát vọng giải thoát (mõ đêm chùa, ước mơ) và sự kìm kẹp của thực tại (gạo mua, cơm nấu), tạo nên một thi phẩm không chỉ toàn mỹ về hình thức trắc đối mà còn sâu sắc về tư tưởng nhân văn trước những xoay vần nghiệt ngã của cuộc đời.
*****
Trong dòng chảy của thi ca cổ điển, thể thơ Thuận nghịch độc vốn là một "trận đồ bát quái" của ngôn từ, nơi các bậc túc nho xưa như vua Tự Đức hay các danh sĩ cung đình thường dùng để phô diễn sự uyên bác và trí tuệ mẫn tiệp. Tuy nhiên, khi đặt bài thơ "Tiến Thoái Lưỡng Nan" bên cạnh những thi phẩm truyền thống, ta thấy hiện lên một sự kế thừa tuyệt mỹ nhưng cũng đầy rẫy những sáng tạo mang hơi thở của thân phận và nỗi đau nhân thế đời thường. Nếu như những bài thơ hồi văn của các bậc vương giả xưa thường thiên về tả cảnh ngụ tình với những hình ảnh phong hoa tuyết nguyệt mỹ lệ như "hoa cười nguyệt rạng" hay "gió cuốn mây bay" để tạo nên một vẻ đẹp hoàn hảo, cân xứng đến mức tĩnh tại, thì tác giả của bài thơ này lại chọn một lối đi gai góc hơn, đưa cái thô mộc, cái trần trụi của đời sống vào trong khuôn thước ngặt nghèo của luật thi. Sự sáng tạo nằm ở chỗ, tác giả không dùng sự thuận nghịch để tạo ra một vòng lặp mỹ miều, mà dùng nó để nhấn mạnh cái "vòng lặp bế tắc"; cái tài hoa ở đây không chỉ là việc các chữ cái khớp nhau khi đọc ngược, mà là việc chuyển đổi trạng thái tâm lý từ một lời than vãn sang một lời tổng kết định mệnh đầy nghiệt ngã. So với lối thơ xưa vốn coi trọng sự thanh cao, thoát tục, "Tiến Thoái Lưỡng Nan" lại mang đậm dấu ấn của lòng trắc ẩn trước nỗi lo cơm áo, nơi những chữ như "vợ đòi", "gạo mua", "lời lỗ" vang lên không chút khiên cưỡng, trái lại còn tạo nên một sự tương phản đắt giá với âm hưởng thoát tục của "mõ đêm chùa". Đó chính là sự kế thừa cái cấu trúc tầng tầng lớp lớp của thi pháp cổ, nhưng lại phá cách bằng cách rót vào đó thứ nhựa sống nóng hổi của thực tại và tiếng lòng đau đáu của một kẻ sĩ ưu thời mẫn thế. Đặc biệt, cái độc đáo khiến thi phẩm này nổi bật hơn hẳn là việc duy trì được mạch cảm xúc thống nhất, không bị rơi vào bẫy "ép chữ" mà ta thường thấy ở những người tập làm thơ hồi văn; dẫu đọc xuôi hay ngược, mỗi hình ảnh như "ao bưởi rụng" hay "nước trâu lùa" vẫn giữ nguyên được độ nhòe của nỗi sầu, khiến người đọc cảm thấy như đang đứng trước một tấm gương soi hai mặt: mặt nào cũng thấy bóng dáng một kiếp người đang loay hoay giữa dòng đời đầy biến động, một sự sáng tạo tinh tế khi dùng hình thức gò bó nhất để lột tả một tâm hồn khao khát tự do nhất.